Tuesday, October 13, 2015

Phiên bản 3
Sau khi lấy lý học chiêm tinh thời thế các nhà du ngôn (tức là Sấm ký) Tầu như Khổng Minh, Lưu Bá Ôn hoặc Trạng Trình của ta đã đem bát quái ra thông vào thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên chia ra bao nhiêu kỷ. Trên linh từ lúc khai thiên lập địa, dưới đời sau. Xưa là các thời đại vua chúa, xét vào quẻ hưng suy, bĩ, loạn đều ứng với nhau nên lấy quẻ ra mà chiêm nghiệm việc đời cũng đoán theo quẻ mà thôi, chứ không phải biết trước hẳn sau sẽ thế nào. Vậy cho nên đời sau cũng cứ phải đợi xẩy ra mới biết câu tiên tri là đúng. Xem sấm phải biết như thế, ai cũng hay có ý đoán riêng của mình.

Sấm Trạng Trình
Nước Nam thường có thánh tài
Sơn hà vững đặt mấy ai rõ ràng
Kia Nhị thủy nọ Đảo sơn
Bãi ngọc đất nổi âu vàng trời cho
Học cách vật mới dò tới chốn
Chép ghi làm một bản xem chơi
Muôn việc cũng bởi tại trời
Suy thông mới biết sự đời nhường bao
Khéo chẳng sai tơ hào cũng vậy
Truyền hậu thế ai nấy xem cho
Những lời nghiêm ngặt khôn lo
Ai mà biết được trượng phu nên người
Nay xem chữ một nghĩa mười
Nói xuôi cũng được ngược thời cũng nên
Kể từ Lạc Long Quân dựng nước
Sang Hùng Vương được 18 đời
Tiên Hoàng ngày trước mở ngôi
Cờ lau lập trận thay trời trị dân
Mão được 12 dư xuân
(1) Lê Hoàn kế vị xa gần âu ca
Truyền đã được mười ba rằm lẻ
Đến Ngọa triều nào kể tài năng
(2) Ngôi trời truyền đến Lý nay
Long thành bát diệp đến ngày dực phân
Chiều Hoàng là ả nữ quân
(3) Mê về nhan sắc trào trần thái tôn
………………………………………………..
Trăm bảy mươi in dấu thất niên
Đông A chốn ấy còn bền
Quý Ly tiếm thiết thay quyền đã cam
Thái ngu được mười bốn năm
Hậu thập nhị để lại trăm đố hồi
Suy ra mới biết sự trời
(4) Lam Sơn khởi nghĩa là đời Lê gia
Mười đời ngồi ngự ngai vàng
(5) Lại phải Mạc thị thiêu tàn kinh thư
Xưa làm lực sỹ đồ du
Trời cho nên trị làm vua một đời
Sáu mươi năm bất tái hồi
Tống Sơn chốn ấy có đời thạch công
Định mưu phù lập Trang Tôn
Phù Lê diệt Mạc anh hùng ai đương
Lại bàn bỉnh chính Sóc Sơn
(6) Trịnh Vương toan chiếm ngai vàng Lê gia
(7) Tây Sơn sừng sực kéo ra
Nghiệm xem thế tục gọi là hiệu chi ?

Chú thích:
(1) Vua Lê Đại Hành, sinh ở xã Bảo Thái, Thanh Liêm
(2) Tên gọi Công Uẩn sinh ở chùa tháp Bắc Ninh khi đẻ có báo điềm rất lạ
(3) Trần Thái Tôn tên là Cảnh, quê ở Tức Mạc, huyện Thiên Trường - Nam Định nhờ có chú là Trần Thủ Độ mà được thiên hạ.
(4) Ý nói Lê Thái Tổ tên gọi là Lê Lợi quê ở núi Lam Sơn thuộc Thanh Hoá có Thanh kiếm thần mà giết được giặc Liễu Thăng, Hoàng Phúc.
(5) Mạc Đăng Dung là cháu bảy đời của Mạc Đinh Chi
(6) Trịnh Kiểm
(7) Nguyễn Huệ hiệu là Quang Trung phò nhà Lê diệt nhà Trịnh


Lại có Ngạn Bằng:

Đầu cha chắp lấy đầu con
Mười bốn năm tròn hết số thì thôi

Chú thích: Nguyễn Huệ ra đời cả cha cả con cầm quyền được 14 năm thì hết

Có thơ rằng:

Cha nhỏ đầu con lại nhỏ chân
Nào ai có biết nguỵ quân cầm quyền
Phụ nguyên chính thống hẳn hoi
Yêu dê lại phải theo đòi đàn dê
Nọ nào ngang dọc trong huê
Mà cho thiên hạ khôn bề làm ăn
Chó mừng chủ, gà cũng cục tác
Lợn ăn no tha rác, chuột chơi

Ngạn lại có câu rằng:

Già bỏ con kêu cục tác
Chó vẩy đuôi mừng thánh chúa
Lợn ăn no un ỉn nằm
Mới kể là đời thịnh thế
Mà thiên hạ sao nỡ sẻ làm hai
Bởi Tần Vương u mê chẳng biết
Rồi phen này dê lại diệt dê
Tới khi thực tận kinh bì
Âm binh ở giữa ai thì biết sao
Trời cho ta giơ dao giết quỷ
Khắp dưới trời bằng quỷ khư khư
Ai từng cứu con thơ sa giếng
Giốc một lòng chinh chiến đua nhau
Muôn dân chịu thuở âu sầu
Kể dư dôi ngũ mới hầu khoan cho
Chốn đông nam là nơi khổ ải
Lánh cho xa kẻo phải đao binh
Bắc kinh mới thực đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ dấu danh được nào
Vả mình là đấng anh hào
Đánh làm sao được ước ao đêm ngày
Bò men lên núi Vu Sơn
Thừa cơ mới nổi một cơn phục thù
Ấy những quân phụ thù thui thủi
Lòng trời xui ai lại biết đâu…

Chú thích: Đoạn này theo tôi Sấm nói về Nguyễn Huệ. Cha con Nguyễn Huệ ra đời được 14 năm thì hết. Nguyễn Huệ chết như gà mẹ bỏ con. Sau đó Nguyễn ánh lấy lại được giang sơn.

Có thơ rằng:

Dần Mão chư dương giai vị cập
Lai chiêu lục thất xuất minh quân
Hồng Lam ngũ bách niên thiên hạ
Hưng tộ điện trường ức vạn xuân

Chú thích: Đoạn này nói về nhà Nguyễn và thực tế cung đình nhà Nguyễn hiện nay đã được thế giới công nhận là di sản văn hoá thế giới (rất đúng) nên tồn tại đến muôn đời.

Có thơ rằng:

Hậu đáo Kê lai khởi chiến qua
Thuỳ Tri thiên hạ chuyển như sa
Anh hùng mai thảo mã
Tướng suý tận tiêu ma
Phá điền thiên tử xuất
Tráng sỹ tảo sơn hà
Gà kia bên tường khuya sớm gáy
Chẳng yêu ra áy náy bất bình

Chú thích: Năm thân (khỉ) Năm dậu (gà) gây sự đánh nhau. Ai hay thiên hạ xoay chuyển như cát bụi, anh hùng chôn ở bụi cỏ , da ngựa bọc thây, vở ruộng thì vua ra, đuôi dài quét núi sông. Theo tôi đây là nói đến thời đại cộng sản vua là Hồ Chí Minh.

Có thơ rằng:

Hoành Sơn phân giải
Bò Đái thất thanh
Nam Đàn sinh thánh (1)

Chú thích: (1) Đây nói về Hồ Chí Minh ra đời

Thơ rằng:

(1) Hầu nguyệt thỏ đầu xuất
Chấn đoài cương bất chấn
Quần Vương giai đạo tặc
(2) Bách tính khổ tai ương
Ma vương sát quỷ tướng
Hoàng thiên chu ma vương
Thuỷ trung tàng bảo cái
Thử thi thánh nhân hương

Chú thích:
(1) Đoạn này nói năm hầu (thân) là 1944 - 1945 thì thánh nhân (tức Hồ Chí Minh) xuất hiện ra
(2) Thánh nhân ra làm cho bách tính khổ về những tai ương. Đến cung chấn cung đoài thì không giữ được nữa. Thuỷ Trung là làng Sen quê ông Hồ Chí Minh.


Có thơ rằng:

Một đám mây xanh đứng giữa trời
Ba thằng nho nhỏ đánh nhau chơi
Thiên hạ mười phần còn có một
Bây giờ Bách Sỷ mới ra đời
Thầy tăng mở nước trời không bảo.
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham của tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu an thân
Đằng giang chốn ấy cũng gần
Kim ngưu chốn ấy cũng lần tới nơi

Chú thích:
- Đảng Cộng Sản Việt Nam sau nay chia ra ba phái rồi thì ba phái gây ra sự đánh nhau. Thiên hạ mười phần còn chỉ lưa một phần là còn tin Đảng mà thôi. Lúc này ông Bạch Sỉ ra đời. Thầy tăng (là thằng tây) chỉ nước Mỹ giúp đỡ Việt Nam thì những kẻ tham của, tham giàu (chỉ các quan tham của cộng sản phải tìm nơi tam hiểm mới an thân được)
- Đăng giang là sông Bạch Đằng, Kim Ngưu là Hồ Tây.


Thơ rằng:

Ba thục riêng một góc trời
Thái Nguyên một giải là nơi Trú đình
Bốn bề núi đá mọc xanh
Có đường tiểu mạch nương mình ai hay
Bốn mùa chim núi đá cây
Trời xanh cỏ biếc hoa bay ngạt ngào
Khuyên ai là đấng anh hào
Đợi chờ Nghiêu, Thuấn ngày nào sẽ hay
Bốn bụt xuất thế đã chầy
Chưa chọn được ngày ra cứu muôn dân.

Chú thích: Đoạn này nói chỗ cư trú của ông Bạch Sỉ. Bốn bụt nghĩa là bốn ông thánh đều theo Đạo phật. (Nghiêu, Thuấn) là hai vua hiền ở Trung Quốc (ý nói ông Lý Đông A như Nghiêu Thuấn)

Thơ rằng:

Ấy là điềm xuất thánh quân
Hễ ai tìm thấy thì thân mới tường
Chữ rằng “Hữu xạ tự nhiên hương”
Có dễ tầm thường thuốc dấu bán rao
Nắng lâu ắt có mưa rào
Vội chi tát nước xôn xao cày bừa
Nắng rồi thì phải có mưa
Buồm đang đợi gió cày bừa đợi cơn
Tuần này thánh xuất khảm phương
Sự thật đã tường chẳng lo phải say
Tuần này thiên địa chuyển hồi
Thiên sầu địa thảm lòng người chẳng yên
Trời sai quỷ sứ dọn đường
Để cho thánh xuất khảm phương sau này
Vội chi đua sức ra tay
Người vội cày bừa ta sẻ cấy chơi
Suy cho thấu biết sự đời
Sấm ký mấy lời sự thực chẳng ngoa

Chú thích: Đất nước Việt Nam loạn lạc, thiên sầu, địa thảm lòng người bất an, ai cũng mong thời thế thay đổi cuối cùng thì ông thánh xuất ở khảm phương ra cứu muôn dân. Đó là ông Lý Đông A có hiệu là Trần Kha

Thơ rằng:

1- Tích nhất đương lang khởi bộ thuyền
2- Ưng tri hoàng thước tại thân biên
3- Tước bị lạm nhân cung đạn đả
4- Lạp nhân cách tự hổ lang huyên
5- Tuệ tinh xuất long xà
6- Thần xuất cửu cửu gia
7- Ngưu mã thiên hạ động
8- Đinh hạ nãi Đông A

Chú thích:
1- Đương lang là con bò ngựa, thuyền là con ve sầu.
2- Nên biết rằng là con chim sẻ ở bên cạnh mình xót thời thế thì cả ba con đều bị mất mồi ăn.
3- Chim sẻ bị người ta săn bắn
4- Đi săn phải hổ đuổi
5- Năm Thìn, năm Tỵ có sao chổi ra điềm lạ (2000- 2001)
6- Thần ra điềm chẳng lành chín chín nhà.
7- Sửu Ngọ niên thiên hạ giao động (1985 và 1990)
8- Dưới chữ đinh biến ra chữ trần. Nghĩa là ông thánh có hiệu là “Trần Kha”


Thơ rằng:

Rồi ra mới biết thánh minh
Mừng rằng gặp hội hiển vinh kêu hò
Nhị Hà một giải quanh co
Chính thức chốn ấy cố đô hoàng bào
Khắp hoà thiên hạ nghêu ngao
Có bến mưa rào có thứ cùng chăng
Nói đến độ Thầy Tăng mở nước
Đánh quỷ sứ xuôi ngược đi đâu
Bấy lâu những cậy phép mầu
Bây giờ phép ấy để đâu không hào ?
Cũng có kẻ non trèo biển lội
Lánh mình chơi vào quận Ngô Tề

Chú thích: Theo tôi thì Đảng cộng sản bấy lâu cậy mình tài giỏi nhưng đến lúc “Thầy tăng” là thằng tây mở nước thì Đảng không còn những (phép mầu nữa) mà đã trở thành quỷ sứ cuối cùng đảng tan thì có những kẻ chạy qua Trung Quốc chứng tỏ đảng cộng sản Trung Quốc mất sau cùng.

Thơ rằng:

1- Di lặc giáng sinh
2- Sa phù dĩ chỉ
3- Lục thất dĩ thành
4- Kiến long sào kinh
5- Nhật xuất điện thượng
6- Thiên hạ thái bình

Chú thích:
1- Đức di lặc phật giáng thế
2- Có các bùa phép để trừ
3- Sáu bảy năm mới thành
4- Dựng kinh đô ở trên hang con Rồng (Hà Nội)
5- Trên cung điện có mặt trời chiếu xuống
6- Lúc này thiên hạ được thái bình


Thơ rằng:

Giang Nam nổi trận mạt thù
72 tướng phò vua ngất trời
Phùng trời nay gặp thái lai
Can qua chiến trận kể người phong công
Trẻ già được hết sự lòng
Ghi làm một bản nội phòng mở xem
Rước vua về đến Tràng An
Bao nhiêu nguỵ đảng loài gian diệt tàn
Đời ấy cùng thánh, cùng tiên
Sinh những người hiền giúp nước yên dân.
Này những lúc thánh nhân chưa ra đời
Chó còn nằm đầu khỉ cuối thu
Lợn nằm cũng thấy lợn lo
Thái bình mới động thập thò liền sang
Ngang cung văn vũ khác thường
Chẳng yêu thì cũng bất tường chẳng không
Thuỷ binh cờ xí vừng hồng
Bộ binh rầm rập như ong kéo đàn
Đứng hiên ngang nào ai biết trước
(1)Bắc kinh sang có việc gì chăng?
Ai còn khoe trí khoe năng
Cấm kia bắt nọ tưng bừng đòi nơi
(2) Chưa từng thấy nay đời sự lạ
Bỗng khiến người vu vạ cho dân
Muốn bình sao chẳng lấy nhân
Muốn yên sao chẳng dục dân cày bừa
Đã ngu dại Hoàn linh đời Hán
(3) Đúc tiền ra bán tước cho dân
Xun xoe những cậy thánh thần
Ai ngờ thiên địa xoay vần đã công
Ngẫm hoá công sáu tay khôn ví
Xưa phục thù ai sửa ngôi cho
Mạc kia cũng muốn nên trò
Dấy binh hai Quảng cơ đồ ghê thay!
Kẻ thì tự xưng Lê nay
Tam phân rồi chẳng được gì cả ba.
Bốn phương cũng có can qua
Mạc thì chẳng được đã ra lại về
Quân hùng binh giấy giang khê
Kẻ khoe cứu nước, người khoe trị vì…

Chú thích:
1- Quân Trung Quốc sang
2- Lịch sử nước Việt Nam chưa có sự lạ lùng nào hơn là đảng đã luôn vu vạ cho dân (như vu khống các đảng viên đảng cộng sản, vu khống cho các nhà đấu tranh cho dân chủ)
3- Quan chức đảng cộng sản đều dùng tiền mua cả.
4- Lúc này có lẽ nhân dân nổi dậy.
Đoạn này ý nói có 72 tướng giỏi phò ông Lý Đông A và các tướng cộng sản sau này khi gặp quân ông Lý Đông A thì đều đầu hàng và theo ông Lý Đông A cả. Quân đội ông Lý có bộ binh, thuỷ binh. Sau rước ông Lý Đông A về Hà Nội. Sau đó Trung Quốc sang nhưng không làm được gì, đành phải về.
Còn đoạn này nói những người cộng sản đã ngu dại như Hoàn Linh đời Hán nên họ đã nhờ và dựa vào Trung Quốc và Trung Quốc đã dấy binh ở Quảng Đông, Quảng Tây, nhưng rồi thời thế đã không làm gì được đành phải chịu về chắc lúc này có nước Mỹ (thầy tăng) can thiệp chăng?

Thơ rằng:

1- Hầu đáo kê lai vị chính kỳ
2- Quốc dân hãm nịch quốc dân di
3- Nhân giãn giục dĩ chu nhi tống
4- Phong nhĩ tung hoàng thị mạc vi

Chú thích:
1- Năm thân, năm dậu cũng chưa thành
2- Dân bị hãm hại, quân lại di đi nơi khác
3- Nước nhà đa sự thì nhà Chu thay lên làm nhà Tống cũng thế (ý nói đảng cộng sản thì ai lên nắm quyền thì cũng đều thế cả)
4- Ong kiến đã tung hoành làm lấy các việc lớn (Ong kiến chỉ bọn tiểu nhân thực tế là chỉ Triều đinh đảng cộng sản)

Thơ rằng

(1) Hạ huyên thượng đảo quân vô chủ
(2) Tài tận dân hao thế lực suy
(3) Huyết chiến dê đầu nhân huyết chiến
(4) Kham tiếu không huyền tiếm thất ky
Xem thấy những sương sam tuyết lạnh
Loài bất bình tranh cạnh hung hăng
Thành ao cá nước tưng bừng
Kẻ xiêu dòng hải người tàn bắc lâm
Chiến trường chốn chốn cát lầm
Kẻ nằm đầy đất người nằm đầy sông
Sang thu chín huyết vừng hồng
Kẻ mong ngày hạ người mong mưa nhuần
(5) (*) Trẻ con mang lệnh tướng quân
Ngỡ uy đã sợ ngỡ nhân đã nhường
Dùng uy bát là đường ngũ bá
Cũng tưởng rằng đế tá dân hoan
Cỏ cây lá rụng đầy ngàn
Một làng còn mấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết có nhà Đà giang
Tả bạch hạc, Hữu thuỷ trường
Kiều môn án trước cao bành tựa sau
Thái nguyên cận bắc đường sau
Hễ mà tìm thấy mới hầu thần cơ
Cùng nhau gặp mặt bây giờ
Trúc mong kỳ úc thung chờ non đông
(6) (*) Vui mừng gặp mặt tam công
Cá được hoá rồng trăm trắm ngôi cao
Mai kia cùng đấng anh hào
Ba người làm bạn ngôi cao lộc lành
Vậy nên một áng phong tình
Mới hay phú quý hiển vinh lạ lùng
Bõ khi chém lợn vẽ rồng
Bõ khi vay mượn điều cùng trượng phu
Bõ khi kẻ việt người Hồ
Bõ khi kẻ sở người ngô xa đường
Ngày thường trông thấy quyển vàng
Của riêng quốc bảo xé mang xem chơi
Tinh thái ất giờ đời là thực
Sấm trời xem vô giá muôn phần
Kể từ đời Lạc Long Quân
Đắp đổi xoay vần đến lục thập gian
Một đời có một tôi ngoan
Giúp chưng nhà nước dân an thái bình
(7) (*) Thấy đâu bò đái thất thanh
ấy điềm sinh thánh rành rành chẳng nghi
Phá điền than đến đàn dê
Hễ mà chuột rúc thì dê về chuồng
Dê đi dê lại tuôn buồn
Đàn ghi nó cũng một môn phù trì

Chú thích:
1- Chính quyền đảng cộng sản trên dưới đảo ngược như không có chủ
2- Tài hết, thế lực hết nên nước suy
3- Dân ra đánh nhau máu chảy thành sông
4- Chính quyền chẳng khác gì cái đàn không có dây
5- Chiến trường dân nổi loạn khắp nơi. Ông Lý Đông A ra đời kẻ cầm quân của đảng cộng sản chả có tài cán gì như đứa trẻ con nên đã dễ đầu hàng.
6- Ở Thái Nguyễn cận phía Bắc có ba người giỏi gặp ông Lý Đông A. Sau họ đều là những người nắm quyền trong chính phủ mới của ông Lý Đông A
7- Ở Bắc cạn có cái suối chảy, nước như là con bò đái cả ngày, lúc nào ngừng chảy thì ông thánh ra đời.

Thờ rằng:

Ghê thay thau lẫn với vàng
Vàng kia thử lửa càng cao giá vàng
Thánh ra tuyết tán mây tan
Bây giờ đuốc sáng rõ ràng mọi nơi
Can qua việc nước bời bời
(1) Trên thuận lòng trời dưới đẹp lòng dân
Lục thất dư ngũ bách xuân
Bây giờ trời mới xoay vẫn nơi nao
Thấy sấm tự đấy chép vào
Một chút tơ hào chẳng dám sai ngoa

Chú thích:
(1) ông Thánh Lý Đông A ra đời thì thuận lòng trời và đẹp lòng dân. Nhân dân ai cũng theo ông Lý Đông A cả, kể cả đảng viên đảng cộng sản.

Thơ rằng:

Quân hùng binh kéo đầy khe
Kẻ xưng cứu nước người khoe trị đời
Bấy giờ càng khốn ai ơi
Quỷ ma chật vật biết trời là đâu ?
Thương những kẻ ăn rau, ăn muối.
Gặp nước buông con cái ẩn đâu ?
Báo thù ấy chẳng sai đâu
Đạo trời chẳng trước thì sau chẳng nhầm
Kia những kẻ hai lòng sự chủ
Thấy đâu hơn thì phụ sở ân
Cho nên phải kiếp trầm luân
Ai khôn mới giữ được thân đời này
Nói cho hay khảm cung ong dậy
Chí anh hùng chiếm lấy mới ngoan
Chữ rằng lục thất nguyệt đan
Ai mà nghĩ được mới nên anh tài
Hễ nhân kiến là đời đất cũ
Thì phụ nguyên mới trổ binh ra
Bốn phương chẳng động can qua
Quân hùng nổi dậy điều hoà làm tôi
Bấy giờ ruộng mở quy khôi
(1) Thần trâu thu cả mọi nơi vẹn toàn
Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Hoàng phúc kia đã định tay phong
Lồng lộng thế giới rạng trong
Lồ lộ mặt rồng đầu có chữ Vương
Giời sinh tài lạ khác thường
Thuấn Nghiêu là chí cao Quang là tài
Xem ý trời có lòng khải thánh
Giốc sinh hiền điều chỉnh hộ mai
Trên trời thấy những vì sao lạ
Dùng ở tay phụ tá vương gia
Bắc phương chính khí sinh ra
Có ông Bạch Sỷ điều hoà hôm mai
Song thiên nhật tượng sáng soi
Thánh nhân chẳng biết thì coi cho tường
Đời này thánh kế vi vương
Thu cả đạo đức văn chương trong mình
Uy nghi trạng mạo khác thường
Thác cư một góc kim tinh phương đoài
Cùng nhau khuya sớm chăn nuôi
Chờ cơ sẻ mới ra đời cứu dân
Binh thư mấy quyển kinh luân
Thiên văn địa lý nhân luân càng mầu
Xem sắc mây vẽ rõ vẻ rồng
Thánh nhân cư có thuỷ cung
Quân thần đã định gia lòng chớ tham
Lại dặn đừng tú man chi cả
Chớ vội vàng tất tả chạy rông
Học cho biết nhẽ cát hung
Biết phương hướng đứng chớ đừng lầm chi
Hễ trời sinh xuống phải thì
(2) Bất kỳ nhi ngô tưởng gì đợi mong
Kìa những kẻ vội lòng phú quý
Xem trong mình một tý đều không
Ví dù có gặp Ngư Ông
Lưới chăng đầu sẵn nên công mà hòng
Xin khuyên đứng trời trung quân tử
Lòng trung nghĩa hãy chứa cho tinh
Âm dương cơ ngẫu ngộ sinh
Thái nhâm, thái ất trong mình cho hay
Văn thi huyện nghiên bài quyết thắng
Học tử phòng cùng với Khổng Minh
Võ thông yên thuỷ thần kinh
Được vào chiến trận mới lành biết cơ
Chớ vật vờ quen loài ong kiến
Biết trao tay miệng tiếng nói không
Ngộ may gặp hội mây rồng
Công danh rực rỡ chép trong vân đài
Bấy giờ phỉ sức chí tài
Lọ là đâu phải ngược xuôi nhọc mình
Vương lương thực có vĩ kinh
Cao tay mới biết ngẫm tình năm nao
Trên trời có mấy vì sao
Đủ cả hiền tướng anh hào đòi nơi
Nước Nam thường có thánh tài
Ai khôn học lấy hôm mai mới tường
So mấy lề để tàng kim quỹ
Chờ sau này có chí mới nên
Trước là biết nẻo tôn phù
Sau là cao trí biết lo mặc lòng
Xem đoài cung thiên thời bất tạo
Thấy vĩ tinh thì tháo cho mau
Chớ có tham tước, tham giàu
Tìm nơi tam hiểm mới hầu bảo thân
Đôi phen ong dấy rầm rầm
Muông sinh ba góc kéo quân dấy loàn
Man mác một lĩnh hoành sơn
Thừa cơ liền mới nổi cơn phục thù
ấy là quân phục thù thai thải
Lòng trời xui ai lại biết chi
Phá điền đầu khỉ cuối thu
Tài binh mọi giống thập thò liền sang
Nọ chẳng thương trong nam khôn xiết
Vả lại thêm hung kiết mất mùa
Lưu tinh hiện trước đôi thu
Bấy giờ thiên hạ mây mù đủ năm
Sang thu chín huyết hồng tứ giã
Nối đàn dê tranh phá đòi nơi
Đua nhau quân thán đồ lê
Bấy giờ thiên hạ khôn bề tựa nương
Kẻ thì phải lửa hung hoang
Kẻ thì binh lửa chiến tràng chết oan
Kẻ thì bận của bông toan khốn mình
Muông sinh giông tố cạnh tranh
Điêu thì làm tước xuất binh thủ thành
Bời bời đua mạnh tranh hành
(3) Ra đâu đánh đấy xuất binh sớm ngày
Bể thành cá phải ẩn cây
Đất bằng nổi sấm cát bay mịt mù
Nào ai đã dễ nhìn ru
Thuỷ chiến bộ chiến mặc dầu đòi cơn
Cây bay lá cháy đôi ngàn
Một làng còn nhấy chim đàn bay ra
Bốn phương cùng có can qua
Làm sao còn biết nơi hoà bảo thân
Đoài phương thật có chân nhân
Quần tiên dĩ nghĩa chẳng phân hại người
Hễ đông nam nhiều phen tàn tặc
Lánh cho xa keo mắc đạo binh
Bắc kinh mới thật đế kinh (Hà Nội)
Giấu thân chưa dễ giấu danh được nào
Chim hồng vỗ cánh bay cao
Tìm cho được chốn mới vào thần kinh
Cấy cày tu dãi thời mùa
Bây giờ cấy ruộng lo chờ mướn ai
Nhân ra cận duyệt viễn lai
Chẳng phiền binh nhọc chẳng phiền lương thêm
Xem tượng trời biết đường đời trị
Ngẫm về sau họ lý xưa nên
Dòng nhà đã thấy dấu truyền
Ngẫm xem thế giới còn in đời đời
Thần quy có nó ở trời
Để làm thần khí sửa nơi trị trường

Chú thích:
Đoạn này nói tài đức của ông Trần Kha (Lý Đông A) cuối cùng sấm kết luận chỉ có họ Lý là trường tồn mãi mãi và ông Lý Đông A không làm hại đến ai cả. Là người nhân đức tài giỏi thật sự. Khi ông thánh ra thì không ai ngờ được cả, Sấm còn khuyên ai đi theo ông thánh mà có tài thì như gặp hội mây rồng người đó sẽ có công danh.
1- Ông Lý Đông A ra đời thì ông Lý đã thu lại được giang sơn đất nước đã bị đảng cộng sản Việt Nam nhường cho Trung Quốc
2- Ông Lý Đông A ra đời rất đột ngột và không ai biết trước được cả
3- Quân ông Lý Đông A ra đâu đánh đấy, giống như quân của Hán Tín thời nhà Hán vậy.
__________________
Hãy giữ vững lập trường vào những điều bạn tin tưởng cho dù những người khác phản đối kịch liệt và áp lực đó đè nặng trên vai mà bạn vẫn chịu đựng được. Đó là Can Đảm.

Dân bị khổ chiến trong 10 năm

Lại nói sự Hoàng giang sinh thánh
Sông bảo giang thiên định ai hay ?
Lục thất cho biết ngày rầy
(1) Phụ nguyên ấy thực ở đầy tào khê
Có thầy nhân thập đi về
(2) Tả hữu phù trì cây cỏ là quân
Dốc hết sức sửa sang vương nghiệp
Giúp vạn dân cho đẹp lòng trời
Ra tay điều đỉnh hộ mai
Bấy giờ mới biết rằng tài an dân
Nọ là phải nhọc kéo quân
Thấy nhân ai chẳng mến nhân đi về

Chú thích:
1- Họ Nguyễn (Chữ phụ bên chữ Nguyên)
2- Bên tả, bên hữu của ông họ Nguyễn (Cây cỏ là quân) ý nói bên tả bên hữu ông họ Nguyễn đều là bọn tiểu nhân cả. Nguyễn là Hồ Chí Minh và dân bị khổ chiến trong 10 năm (rất đúng)


Những câu sấm ngắn

(1) Nguyễn đi rồi Nguyễn lại về
Nhà Nguyễn thất thế nhà Lê trị vì

(2) Bao giờ giặc đánh trên mây
Ăn chia công điểm dân cày khổ ghê

(3) Bao giờ đá nổi lông chìm
Đồng khô hồ cạn búa liềm đánh nhau

(4) Mười phần chết bảy còn ba
Lưa hai phần rưỡi mới ra thái bình

(5) Bao giờ giấy bạc thành tro
Cua đồng đổi cọng chữ nho lại về

(6) Khi nào O mụ cầm quyền
Thì dân trăm họ đeo phiền lắm ru

(7) Trực đáo dương đầu mã vị
Hồ công bát vạn nhập tràng an
Phong công hầu bách vạn dư thiên
Khinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc

(8) Trắng đầu làm tội chưa qua
Đỏ đầu làm tội bằng ba trắng đầu

(9) Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm

(10) Khôn chết, dại chết, biết sống

Chú thích:
1) Nguyễn ái Quốc đi ra nước ngoài, sau Nguyễn về. Sau đó thì Nguyễn Thất thế bị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ tiếm quyền (rất đúng thực tế) và đến năm 1965 thì Cụ Hồ không còn quyền hành gì nữa.
2) Đến thời đại có máy bay đánh trên không thì cũng là Đảng Cọng Sản lùa dân vào hợp tác xã nên đã ăn chia công điểm và thời ấy dân rất khổ.
3) Đá là Tưởng Giới Thạch, lông là Mao Trạch Đông, đồng là Phạm Văn Đồng, Hồ là Hồ Chí Minh. Nghĩa là Sấm muốn nói sự nghiệp họ Tưởng thì càng ngày càng thịnh, còn Mao, Đồng, Hồ đều như là ruộng hồ cạn mà thôi, nghĩa là rồi mất dần. Rồi các Đảng Cọng Sản tự đánh lại nhau.
4) Trong thế giới cộng sản có khoảng 15 nước dến khi thế giới cộng sản mất gần hết chỉ còn lại Cu Ba, Trung Quốc, Việt Nam, Bắc Triều Tiên, Lào thì nước Việt Nam Đảng cộng sản mới đi theo xu thế hoà bình coi tất cả các nước là bạn (rất đúng thực tế).
5) Năm 1985 đổi tiền nên phải đốt tiền, sau đó cua đồng đổi cọng thì Đảng cộng Sản lại đề cao “Văn hoá dân tộc” và tư tưởng nho giáo đã trở lại với dân tộc Việt Nam.
6) Khi chính quyền Đảng Cộng sản có bà Bình, bà Trương Mỹ Hoa cùng nắm quyền (làm phó chủ tịch nước) thì dân trăm Họ luôn phải đeo phiền và bị oan trái.
7) Đến đầu năm Mùi cuối năm ngọ (1945) 8 vạn binh của họ Hồ đến Hà Nội, ông Hồ đã phong tước công, tước hầu dư ra hàng vạn, hàng nghìn người. Ông Hồ đã dùng toàn những kẻ tiểu nhân sau đó xẩy đến mất nước (rất đúng thực tế hiện nay)
8) Pháp cai trị chưa qua, cộng sản cai trị ác gấp ba lần pháp.
9) Ý nói sống trong thời đại cộng sản thì phải dối trá, chứ thật thà là chết.
10) Người tài thì bị đảng giết, người dại thì bị đảng lừa; người nào sống xu thời nịnh bợ thì sống yên được.

Những bài sấm ngắn

Trời sinh thiên tử ở hoả thôn
Một nhà họ Nguyễn phúc sinh tôn
(1) Tiền sinh cha mẹ đà cách trở
Hậu sinh thiên tử bảo giang môn
Canh tân tàn phá (2)
Tuất hợi phục sinh (3)
Nhị ngũ dư bình (4)
Nhân sinh ngọ tuế vi sư (5)
Tị nhân vị tướng (6)
Thìn tuất vị tôn sư (7)

Chú thích: Đoạn này nói về Hồ Chí Minh
1- Hồ Chí Minh trước khi sinh ra cha và mẹ đã xa nhau mỗi người ở một nơi (rất đúng thực tế)
2- Năm 1930 - 1931 tàn phá (Xô Viết Nghệ Tĩnh)
3- 1946 - 1947 thì đảng cộng sản mới khôi phục lại được phong trào.
4- Đảng cộng sản ra đời 1930 đến năm 1954 là 25 năm mới có chính quyền thật sự (mới bình định được)
5- Ai sinh năm ngọ được làm thầy
6- Người sinh năm tị được làm tướng
7- Người sinh năm thìn năm tuất thì được làm thầy chính tông. (ý nói phong nhiều quan lại quá).


Thơ rằng

1- Thánh nhân hương
2- Thuỷ chung tàng bảo cái
3- Thánh nhân chu xứ
4- Tử bích hoàn nhiễu, long hổ chầu vào
5- Chỗ thánh nhân sinh ra
6- Cận bảo giang thuỷ
7- Thuỷ nhiễu chu toàn
8- Thánh nhân danh
9- Mộc hạ liên đinh khẩu
10- Thánh nhân diện bộ đạo đức
11- Nghi quảng tầm chương trích cú
12- Thánh nhân dĩ hữu niên
13- Thuỳ năng thức đắc yên
14- Dãn nhân bất chúc nhĩ
15- Nhập ba thục xuất thái nguyên
16- Thánh nhân sinh ư bách sỉ tự tối linh
17- Thử nhật thiên giáng ngũ sắc vân xích quang màn tự
18- Tự trung dị hương, tam nhật bất tán
19- Thầy tăng tu tại thử, dĩ vị thánh nhân thị
20- Toại chưởng dưỡng chi
21- Thánh mẫu diện xú như lam
22- Niên tam thập lục sinh thánh nhân
23- Hoài nhâm chi nhật
24- Tam nhật thực nhất lý ngư
25- Cư ư giang thượng
26- Quần ngư tranh được
27- Mối trạch kỳ, mỗi tiểu chữ thục thực chi
28- Hậu thường tầm thực chi vu bạch sỉ
30- Nhược ấu thời, cư tại nam nhi thuỷ huyện
31- Cận gia quan thời cư ư thái nguyên viên sơn
32- Thất thập nhị hiền diệc tại thử yên

Chú thích:
1- Nơi sinh ra ông Thánh nhân
2- Trong làn nước biếc chứa tàn lọng quý
3- Chỗ trú ngụ của Thánh nhân
4- Long hổ bốn bên chầu cả vào
5- Nơi sinh ra Thánh nhân
6- Gần sông Bảo giang
7- Xung quanh đều có nước
8- Tên hiệu của Thánh nhân
9- Chữ mộc ở dưới chữ đinh là quẻ ly
10- Ông thánh nhân diện mão rất có đạo đức
11- Nên tìm rộng từng bài chọn từng câu
12- Thánh nhân sinh ra đã lâu năm
13- Ai đã dễ biết được
14- Vì người ta chẳng biết vậy
15- Vào Ba Thục, ra Thái Nguyên
16- Thánh nhân sinh ở chùa Bạch sỉ rất thiêng
17- Ngày ấy sinh ra ông thánh nhân trời có năm sắc mây
18- Đỏ sáng khắp cả chùa
19- Chùa trong có mùi thơm ba ngày không hết
20- Lúc bấy giờ có ông sư tu cho điềm lạ có thánh nhân.
21- Sư bản tự nuôi lớn cho đến trưởng thành
22- Mẹ ông thánh nhân mặt xấu như đổ chàm
23- Bà mẹ 36 tuổi sinh ông thánh nhân
24- Tính từ ngày có thai
25- Trong ba ngày lại ăn một con cá chép
26- Trú ở bên sông
27- Lũ cá tranh nhau nhảy vào
28- Chọn xem con nào bé thì nấu ăn
29- Sau thường đi kiếm ăn quanh chùa Bạch Sỉ
30- Rồi sinh ra ông thánh nhân
31- Lúc nhỏ sinh ở Nam nhị thuỷ huyện
32- Lúc lớn ở Thái Nguyên núi Viên Sơn

72 người hiền đều ở cả đây
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh nhân ở Bạch Sỉ tên là Lý Đông A. Ông Lý Đông A là con của bà ăn mày có diện mạo rất xấu

Thơ vận niên bằng tên các con súc vật

Non đoài vắng vẻ bấy nhiêu lâu
Có một đàn sà đánh lộn nhau
Vượn nọ leo cành cho hả dạ
Lợn kia làm quá phải xoay đầu
Chuột nọ lăm le mong cắn tổ
Ngựa kia đủng đỉnh chạy về tàu
Hùm ở trên rừng gầm mới dậy
Tìm về chốn cũ bắt vào tầu
(1) Lợn nằm cũng thấy tên thù
(2) Đại binh đã động phục thù nghênh ngang
Thánh chúa đang ở hang vàng
(3) Khi nào chuột bắc cầu sang mới về

Chú thích:
1- Theo tôi qua năm hợi 2007 thì nhân dân Việt Nam thấy được kẻ thù của nhân dân là ai.
2- Lòng quân dân đã giao động rất nhiều và họ muốn phục thù (hoặc là đại binh của ông Lý Đông A đang chuẩn bị ra đánh)
3- Qua năm chuột (2008) thì có lẽ ông thánh về


1- Cửu cửu kiền khôn dĩ định
Thanh minh thời tiết hoa tân
2- Trực đáo dương đầu mã vĩ
3- Hồ công bát vạn nhập Tràng An
4- Phong công hầu bách vạn dư thiên
5- Kinh dụng tiểu nhân dĩ chí vong quốc
6- Thực vị lai tại thực vi lai
7- Nam môn vị toả, bắc môn khai
Phong suy ngọc diện lai lai vãng
8- Nghĩ tụ kim thành khứ khứ hồi
9- Bách tính âu ca thiền vũ dạ
10- Cửu châu hoa thảo mả liên đôi
11- Thử hồi nhị ngũ thiên chu tống
12- Hảo bá sơn đầu tửu nhất bôi
13- Thiên địa tuần hoàn âm phục dương
14- Tứ phương binh khởi tứ phương cường
15- Tây dương cảnh giới tây dương chủ
16- Nam quốc sơn hà, nam quốc vương
17- Lý đỉnh tương huyền, hiềm đỉnh trọng
18- Mạc thành dục chúc, khủng thành trường
19- Hoành sơn lộc tẩu nhân dân cộng
20- Thái lĩnh long phi thục cảm đương

Chú thích:
1- Chín chín càn khôn trời đã định trước
2- Đến đầu năm mùi cuối năm ngọ (1954)
3- Tám vạn binh của họ Hồ đến đất tràng an
4- Họ Hồ phong tước công, tước hầu dư
Ra hàng vạn, hàng nghìn người
5- Họ Hồ dung bọn tiểu nhân sau xẩy đến mất nước
6- Ai chưa lại vậy hay chưa lại
7- Chưa khoá cửa nam, đã mở cửa bắc
8- Lũ kiến ở thành vàng đi rồi lại về
9- Trăm họ xướng ca mà âu sầu về đêm
10- Khắp nơi mả chôn như cỏ mọc
11- Hồi bấy giờ dân chúng nhường ngôi cho nhà Chu không phải đánh nhau.
13- Trời đất xoay vẫn âm suy dương thịnh
14- Bốn phương quân khởi bốn phương mạnh
15- Đất phương tây thì chủ tây
16- Sông núi Nước Nam thì Vua Nam
17- Cái đỉnh của nhà Lý muốn treo hiếm đỉnh nặng
18- Thành nhà Mạc muốn đắp sơ thành dài
19- Con hươu ở núi Hoành Sơn chạy đi với nhân dân rồi lại chạy về (Câu này ý nói đầu cụ Hồ đi con đường dân tộc độc lập, nhân dân tự do nhưng sau lại trở lại học thuyết Mác Lê Nin)
20- Ở trong núi Thái Lĩnh có con Rồng bay ra, ai dám địch.
Đoạn này sấm nói đến sự ra đời của đảng cộng sản và ông HCM mà nhân dân ta đã phải chịu cảnh đau khổ mồ mả chôn nhiều như cỏ mọc.

Có thơ rằng

1- Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh
2- Can qua xứ xứ khởi đao binh
3- Mã đầu dương cước anh hùng tận
4- Thân dậu niên lai kiến thái bình

Chú thích:
1- Cuối năm thìn đầu năm tỵ gây ra đánh nhau
2- Khắp nơi khí giới gây ra sự đánh nhau
3- Từ năm ngọ đến năm mùi các vị anh hùng đều chết dần hết
4- Năm thân năm dậu mới có thái bình
Theo tôi đây là sấm nói về cuộc chiến tranh thế thới lần thứ hai, chống phát xít Đức, ý, Nhật.

Thơ rằng

1- Bảo giang thiên tử xuất
2- Bất chiến tự nhiên thành
3- Lê dân đào bảo noãn
4- Tứ hải lạc âu ca
5- Dục thức thánh nhân hương
6- Quá kiều cư bắc phương
7- Danh vị Nguyễn gia tử
Kim tịch sinh Ngưu lang
8- Bắc hữu kim thành tráng
9- Nam tạc ngọc bích thành
10- Hoả thôn đa khuyển phệ
11- Mục giã dục nhân canh
12- Phú quý hồng trần mộng
13- Bần cùng bạch phát sinh
14- Anh hùng vương kiếm kích
15- Minh cổ đổ thái bình

Chú thích:
1- Sông Bảo giang có vị Thiên tử giáng
2- Chẳng đánh mà tự nhiên thành (rất đúng nhờ Nhật Pháp đánh nhau nên đến ngày 2-9-1945. Cụ Hồ không cần đánh mà vẫn đọc được bản “Tuyên ngôn độc lập” ở Ba Đình - Hà Nội)
3- Nhân dân chạy trốn trở về được no ấm
4- Bốn phương vui mừng đều hát xướng (Chứng tỏ lúc đầu nhân dân rất tin vào Hồ Chí Minh)
5- Muốn biết làng ông Thánh nhân
6- Qua cầu đi về phương bắc
7- Tên dòng dõi nhà họ Nguyễn
8- Bắc phương có thành vàng bền chặt
9- Phương nam có một viên ngọc biếc
10- Ở xóm lửa nhiều chó cắn
11- Bỏ súc vật để người canh
12- Giầu sang giấc mộng hồng trần
13- Nghèo đói quá sinh tóc bạc
14- Vua ban cho người anh hùng một thanh kiếm
15- Người mù loà cũng mong được thái bình (Đất nước nghèo khổ chiến tranh ai cũng mong thái bình cả)

Thơ rằng:

1- Việt Nam hữu Ngưu tinh
2- Quá thất thân thuỷ sinh
3- Địa giới sỉ vị bạch
4- Thuỷ trầm nhĩ bất kinh
5- Kỵ mã khu dương tẩu
6- Phù kê thắng đại minh
7- Trư thử giai phong khởi
8- Thìn mão xuất thái bình
9- Thuỷ chung tàng bảo cái
10- Hứa cập thánh nhân hương
11- Mộc hạ trâm trâm khẩu
12- Danh thế xuất nan lường
13- Danh vị nguyễn gia tử
14- Tinh bản tại ngưu lang
15- Mại dữ liên viên dưỡng
16- Khởi nguyệt hộ đại giang
17- Hoặc kiều tam lộng ngạn
18- Hoặc ngụ kim lăng cương
19- Thiên dữ thần thực thuỵ
20- Thuỵ trình ngũ sắc vân
21- Kim kê khai lực diệp
22- Hoàng cái xuất quý phương
23- Nhân nghĩa thuỳ vi địch
24- Đạo đức thục dữ đương
25- Tô truyền nhĩ thập ngũ
26- Vận khải ngũ duyên trường
27- Vận đáo dương hầu cách
28- Chấn đoài cương bất chấn
29- Quần gian đạo danh tự
30- Bách tính khổ tai ương
31- Can qua tranh đấu khởi
32- Phạm địch thán hung hăng
33- Ma vương sát đại quỷ
34- Hoàng thiên chu ma vương
35- Kiến khôn phú tải khôn lường
36- Đào viên đỉnh phú quân dương tranh hùng
37- Cơ nhĩ ngũ thư hùng vị quyết
38- Nẻo Hoành sơn tam liệt ngũ phân
39- Ta hồ vô chủ vô quân
40- Đào viên tan tác ngô dân thủ thành
41- Đoài phương phúc địa giáng linh
42- Cửu trùng thuỵ ứng long thành ngũ vân
43- Phá điền thiên tử giáng trần
44- Dũng sỹ như hai mưu thần nhược lâm
45- Trần công nãi thị phúc tâm
46- Đào, tiềm, sử sỹ giang hồ xuất du
47- Tướng thần hệ xuất y chu
48- Chư cơ phục kiến, đường ngu thị thành
49- Hiệu xứng thiên hạ thái bình
50- Đông tây vô sự nam thành quốc gia
51- Phân phân đông bắc khởi
52- Nhiễu nhiễu xuất đông kinh
53- Bảo giang thiên tử xuất
54- Bất chiến tự nhiên thành
Tên treo ba mối phục thù
55- Khen thay khắc dụng bày trò cho con
Ngọn cờ nhô nhấp đầu non
56- Thạch thành mèo lại bon bon chạy về
Dặm trường lai láng máu dê
Con quay ngã trắng ba quê cuộc tàn
Trời nam giở lại đế vương
Thần nhân không phải là phường thầy tăng
Đồng giao đã có câu rằng
57- Non xanh mà mọc trắng răng mấy kỳ
Bấy giờ quét sạch thử ly
Xin ai nhớ lấy sâm ghi kẻo lầm
Đương khi sấm chớp ầm ầm
Chẳng qua khó số để găm trị bình
Thất phu giám chống thư sinh
58- Sông ô chấp cả mấy anh thuỷ hoàng
Nực cười những lũ bàng quan
59- Cờ tàn lại muốn toan đường đấm xe
Thôi thôi mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

Chú thích:
1- Việt nam có sao ngưu tinh
2- Mới sinh ra sự nhầm lỗi
3- Răng trắng khác địa giới
4- Đáy nước ta chẳng sợ
5- Cưỡi ngựa đuổi dê chạy
6- Phù gà thắng đại minh (câu này ý nói là đảng cộng sản thắng chính quyền miền nam. Dù chính quyền miền nam có đường lối chính trị, kinh tế đúng với thời đại)
7- Năm hợi năm tý đều dấy lên là những năm 1971 - 1972
8- Năm thìn năm mão thì thái bình nghĩa là đến năm 1975 - 1976 thì thái bình (thống nhất hai miền nam bắc)
9- Lòng chung thuỷ được che bằng lọng vàng quý (Đạo đức giả)
10- Sẽ được về đến quê ông thánh nhân
11- Bao nhiêu miệng khen ngợi dưới bóng cây
12- Tên ở đời ra khó mà lường được (Hồ Chí Minh rất nhiều tên giả)
13- Tên ở con nhà họ Nguyễn
14- Căn bản ở làng ngưu lang (hay là anh chăn trâu)
15- Bán cho anh Liên Viên nuôi
16- Khởi lên từ sông đại giang
17- Hoặc ở bờ sông tam động
18- Hoặc trú ở núi kim lăng
19-Trời đã cho các thần báo điềm lạ
20- Ứng hiện ra năm sắc mây
21- Gà vàng mở ra lá mạnh
22- Lọng vàng ra ở phương quý
23- Người nhân nghĩa không ai địch được
24- Người có đạo đức không ai bì được
25- Truyền được 25 năm (HCM ra đọc tuyên ngôn độc lập năm 1945 đến năm 1969 thì chết đúng 25 năm)
26- Vận dài lâu được năm duyên (Sau ông Hồ thì còn được 5 người là Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh)
27- Vận đến năm mùi, năm thân thì có tai ách là các năm 2003 - 2004 thì đảng đã thật sự bị chia ra nhiều phe phái và nhân dân cũng như các nhà đấu tranh cho dân chủ bắt đầu nổi dậy.
28- Đến cung chấn cung đoài thì đảng hoàn toàn suy thoái đảng không còn giữ được nữa
29- Quân gian đọc trộm các pho sách quý (ý nói các đảng viên đảng cộng đọc những bài viết rất hay rất chí lý của các nhà đấu tranh cho dân chủ)
30- Trăm họ khổ về tai nạn đánh nhau
31- Khí giới đánh nhau càng mạnh liệt
32- Bị quân địch cướp khóc than về ức hiếp
33- Ma vương giết tướng quỷ
34- Hoàng thiên hại ma vương
35- Trời đất che đậy không đoán được
36- Trên núi kết nghĩa, quân tướng tranh ngôi nhau (Đoàn viên là kết nghĩa vườn đào của bái công, Quan công và Trương phi). Đây nói tình đồng chí của đảng cộng sản bị tan vỡ
37- Cơ trời định chưa xong
38- Nẻo Hoàng Sơn chia ra năm bè bảy mối (nẻo Hoàng sơn là nói về HCM) tức đảng cộng sản hoàn toàn bị tê liệt (Tinh thần ý chí liệt, tài đức liệt, niềm tin liệt), (Ngũ phân) là nói đảng cộng sản chia ra nhiều phe phái.
39- (Ta Hồ là Hồ ta) ý nói đảng cộng sản không có chủ như nước không có Vua, nhà không có nóc. Đảng cộng sản tan tác trên bảo dưới không nghe.
40- Ý nói đảng cộng sản tan tác, tranh nhau giết nhau; dân chỉ sống biết mình mà thôi
41- Năm sửu thì Vua ra (có thể năm 2009)
44- Tướng mạnh nhiều như bể, mưu hay lắm như rừng (*)
45- Ông Trần Chính thức là người lòng đầy phúc đức
46- Nhiều nhân sỹ ra nước ngoài học hỏi
47- Tướng giỏi đi rồi lại về giúp nước
48- Nhà Đường nhà Chu quyền hành (Nhà Đường nhà Chu là các thời thịnh trị ở bên Trung Quốc ý nói ông Trần Kha ra nắm quyền thì đất nước thịnh trị thật sự)
49- Khắp cả thiên hạ thái bình
50- Không đâu còn đánh nhau, nam thành được độc lập
51- Phương bắc khởi binh khắp nơi
52- Xuất quân đánh phá thành đông
53- Vua ở sông Bảo Giang ra mặt
54- Không cần đánh nhau mà cũng thành nghiệp (Nghĩa là khi quân ông Lý Đông A đi đến đâu thì quân đội đảng cộng sản đầu hàng và theo đến đấy)
55- Khắc Dũng bên tàu giao cho con ba cái tên để làm ba việc lớn.
56- Ở tỉnh Thanh Hoá là chỗ phát nhà Nguyễn
57- (Non xanh) là nước Việt Nam; Trắng răng là chỉ người phương tây chắc đây chỉ nước Mỹ.
58- Như đời nhà Tần bạo ngược đến cực điểm rồi cũng phải mất về tay ông bái công (Hán Cao Tổ)
Đoạn này sấm nói sự ra đời của ông Thánh (Hồ Chí Minh) ông Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã nhầm lẫn nên cuối cùng lại có ông thánh là Lý Đông A ra đời và đồng thời sấm cũng nói những người cộng sản như lũ thằng hề rất bạo ngược.
59- Chứng tỏ đảng cộng sản có một nhóm ngoan cố đến cùng, nhưng vì thời thế mà phải mất về tay ông Lý Đông A.

Bia đổ:
Mộ cụ Trạng Trình có chôn bia một hôm dân làng thấy bia ở mộ cụ đổ, xem bia thấy có mấy câu:

“Cha con thằng Khả
Đánh ngã bia tao
Phải đền tam quán”

Bố con tên Khả chỉ có nghề đào chuột để sinh nhai. Hôm đó ra đào chuột ở mộ cụ, đánh đổ bia, dân làng bắt đền quan tám. thế mới hiểu (tam quán) là quan tám.

Bia cổ am
Khi làng Cổ Am bị bom tàn phá trong nhà thờ cụ Trạng Trình có thấy một cái bia, có hai câu dưới đây.

“Giữa năm hay hai bẩy mười ba
Lửa đâu mà đốt tám gà trên mây”

Chú thích: Năm ấy nhuần hai tháng bảy ông bát kê (Pierre Pasquier) làm chức toàn quyền đi máy bay về Pháp bị cháy. Do thế mới biết tám gà đốt ở trên mây thì tám gà là bát kê, dịch âm ngữ (pasquier) .

Thơ rằng

Kia cơn gió thổi lá rung cây
Rung bắc, rung nam, đông với tây
1- Tan tác kiến kiều an đất nước
2- Xác xơ cổ thụ sạch am mây
3- Sơn lâm nổi sóng mù thao cát
4- Hưng địa tràn dâng hoá nước đầy
5- Một ngựa một yên ai sùng bái
6- Nhắn con nhà Vĩnh Bảo cho hay

Chú thích:
1- Quốc quân đánh tỉnh kiến an
2- Làng cổ Am bị ném bom hồi ấy là năm 1930
3- Lâm thao phủ bị quốc quân đánh
4- Hưng hoá tỉnh cũng bị Quốc quân nổi dậy đánh
5- Tỉnh yên bái bị quốc quân đánh rối loạn
6- Ông Hoàng Gia Mô làm tri huyện ở Vĩnh bảo bị quốc quân giết chết năm 1931


Ngoài cuốn sấm tôi còn biết câu cảo của tàu nói về Hồ Chí Minh như sau:

Nhất kiếm, nhất mã
Anh hùng trong thiên hạ nhất thời

(ý nói sự nghiệp HCM chỉ được một thời là hết) Rất đúng

Lời kết
Cuốn sấm trước đấy thì các nhà nho thường ai cũng có. Nhưng nay thì đã bị cộng sản đốt hầu hết vậy tôi xin dịch và chú thích những đoạn có liên quan đến thời thế bấy giờ để mọi người đọc biết và tự thức tỉnh và cũng như khuyên bảo cho người thân tỉnh thức vậy./.

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2006
Phạm Hồng Đức

No comments:

Post a Comment