Wednesday, January 2, 2019

Báo chí Việt-Nam (2/7): Miền Bắc thời Pháp thuộc

Từ Lý Toét, Xã Xệ đến Tự Lực Văn đoàn
(Tiếp theo)

Theo tôi, hai tờ tạp chí nổi bật nhất miền Bắc thời Pháp thuộc là Phong Hóa (1932 – 1936) và Ngày Nay (1936 – 1939) vì lý do cả hai tờ báo gần gũi với người đọc hơn nếu so với các báo ra đời trước đó. Đó cũng là quy luật tất yếu của nghề báo: độc giả thích đọc những gì mình quan tâm hơn là đọc những gì người làm báo, viết báo quan tâm.

Phong Hóa là một tuần báo đã trải qua hai thời kỳ rõ rệt:
(1)   từ số 1 (ra ngày 16/6/1932) đến số 13 (ra ngày 8/9/1932) do Phạm Hữu Ninh làm Quản lý (Administrateur) và Nguyễn Hữu Mai làm Giám đốc Chính trị (Directeur politique);
(2)   từ số 14 (ra ngày 22/9/1932) đến số cuối cùng (số 190, ra ngày 5/6/1936) do Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh) làm Giám đốc (Directeur).

Tháng 6/1935, Phong Hóa bị nhà cầm quyền bảo hộ ra lệnh đóng cửa 3 tháng, rồi lại được tiếp tục xuất bản cho đến số 190 (ra ngày 5/6/1936), thì bị đóng cửa vĩnh viễn. Đây chính là tờ báo trào phúng đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam kể từ số 14 trở đi.

Trong bối cảnh hàng loạt các nhà yêu nước rơi vào tình trạng tù đày, mọi hình thức đấu tranh hầu như bị triệt tiêu thì Nguyễn Tường Tam [*], với bằng Cử nhân Khoa học, trở về Hà Nội sau thời gian du học từ Pháp. Tại Pháp, ngoài việc học hỏi những kiến thức về khoa học, ông Tam còn chuyên tâm nghiên cứu về nghề báo. Ông nhận thấy loại báo trào phúng là khá thích hợp với sở thích của độc giả người Việt.

Nhất Linh Nguyễn Tường Tam
(Tranh của họa sỹ Nguyễn Gia Trí)

Về Hà Nội, để thực hiện ước vọng của mình, Nguyễn Tường Tam nộp đơn xin Sở Báo chí cho phép ra báo Tiếng Cười, tuy nhiên chỉ được trả lời bằng câu… “chờ xét”. Trong thời gian đợi giấy phép ra báo, Nguyễn Tường Tam xin vào dạy học tại trường tư thục Thăng Long, tại đây, ông quen biết với hai đồng nghiệp là Trần Khánh Giư (Khái Hưng) và Phạm Hữu Ninh.

Khi biết ông Ninh đang làm quản lý cho tờ Phong Hóa, đã ra 13 số báo, nhưng sắp sửa phải đình bản vì không thu hút được người đọc, Nguyễn Tường Tam ngỏ ý mua lại tờ báo. Sau đó, ông Tam, với vai trò giám đốc, thành lập một ban biên tập mới gồm một nhóm anh em bạn hữu trong đó có: Khái Hưng vốn là cây bút chủ lực giữ nhiều mục quan trọng trên báo Phong Hóa, Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu), Hoàng Đạo ( tức Nguyễn Tường Long, em kế của Nhất Linh), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân, em áp út của Nhất Linh)…

Bắt đầu ngày 22/09/1932, báo Phong Hóa số 14 ra 8 trang khổ lớn, bước sang giai đoạn mới, được đánh giá là… một quả bom nổ giữa làng báo. Tôn chỉ đầu tiên của tuần báo Phong Hóa là đả kích những gì cũ kỹ của xã hội Việt Nam, và chủ trương một đời sống mới, thích hợp với phong trào lãng mạn của thời đại.

Ban đầu, tòa soạn và ban trị sự của báo Phong Hóa đặt tại trường Thăng Long ở góc phố hàng Cót (thời Pháp là Rue de Takou) và phố cửa Bắc (Carnot), Hà Nội. Ít lâu sau, báo  dời về số 80, phố Quán Thánh (Avenue du grand Bouddha). Ngoài ra, báo còn có chi nhánh ở Sài Gòn trên đường La Grandière (đường Gia Long dưới thời VNCH và ngày nay là đường Lý Tự Trọng).


Trang bìa Phong Hóa, số 125

Nhà văn Nguyễn Thị Vinh cho biết, “Ngay từ khi nhận tờ Phong Hóa do Phạm Hữu Ninh giao lại năm 1932, với tư cách là giám đốc kiêm quản lý, Nhất Linh đã tính tới việc tập hợp một số nhà văn, nhà thơ cùng một chí hướng ‘Chống phong kiến, chống thực dân’, phổ biến những quan niệm nhân quyền và dân quyền, trình bày những quan niệm về tiến bộ cá nhân, gia đình và xã hội, đặc biệt là khơi dậy lòng yêu nước của người mình”.

Ngoài ra, để báo ngày thêm phong phú, Nguyễn Tường Tam đã rất chú trọng đến việc chiêu hiền đãi sĩ, khiến các văn nghệ sĩ thường xuyên góp bài viết và tranh vẽ. Trong số đó phải kể đến các nhà văn, nhà thơ như Huy Cận, Trọng Lang, Đoàn Phú Tứ, Đỗ Đức Thu, Trần Tiêu, Thanh Tịnh, Phạm Cao Củng, Nguyễn Khắc Hiếu, Tô Hoài, Nguyên Hồng, Đinh Hùng, Nguyễn Công Hoan, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Tường Bách... Đặc biệt, Phong Hóa còn có sự góp mặt các họa sĩ Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân, Nguyễn Cát Tường (Lemur), Lê Minh Đức....


CON LÝ TOÉT – A ha! Tam anh chiến nhất Bố
(Tranh của họa sĩ Tô Ngọc Vân)

Nguyễn Vỹ kể lại trong Văn thi sĩ tiền chiến: “Tuần báo Phong Hóa số 1, trẻ con ôm đi bán rong, vừa chạy vừa la inh ỏi, khắp các phố phường Hà Nội. Thiên hạ tò mò mua xem, báo ‘bán chạy như tôm tươi’. Lý do: báo Phong Hóa đăng đầy những bức vẽ, những mục khôi hài, chế giễu tập tục “phong hóa An Nam”.

Ai đọc báo Phong Hóa cũng không thể nhịn cười, và mỗi tuần ai cũng chờ đến ngày báo Phong Hóa phát hành để mua một tờ đọc cười chơi. Tuần báo Phong Hóa thật đã đem một không khí ‘cười nhộn’ khắp thành phố Hà Nội, một cố đô cổ kính nghiêm nghị của ‘nghìn năm văn vật’.

Theo Nguyễn Vỹ, người đọc bình dân, từ cô sen, cậu bồi, đến các lớp học sinh, thanh niên nam nữ và công tư chức đều cười rũ rượi khi đọc những mẩu chuyện hóm hỉnh và nhìn những bức vẽ rất tức cười, chế nhạo nào ông Lý Toét Đình Dù, “nhà quê ra tỉnh” ngớ ngẩn trước các sự kiện “văn minh”, tân tiến của thời đại, nào là các chuyến xe đò chở đầy nghẹt dân quê lẫn lộn với heo gà, nào người mù đi không thấy đường ngã tòm xuống lỗ cống trên bờ lề đường phố… Chẳng hạn trong bức tranh Lý Toét ra tỉnh dưới đây vẽ cảnh phu lục lộ đào đường, Lý Toét thắc mắc:


LÝ TOÉT (lẩm bẩm): Quái! Người ta chôn ai mà đào dài vậy??

Nhiều bức vẽ do nét bút khôi hài của họa sĩ Đông Sơn (tức Nguyễn Tường Tam) mà ta gọi là hí họa đã chinh phục người đọc, kể cả đàn bà và trẻ con ngay từ những số đầu tiên. Sau đó, báo Phong Hóa vẽ và chế giễu các nhân vật trí thức, trung lưu và thượng lưu có đôi chút tiếng tăm trong xã hội đương thời, khiến các giới ấy cũng phải mua Phong Hóa để xem.


LÝ TOÉT (lẩm bẩm) – Cái chuông quái gì mà giật lại kêu oai oái!

Ông giáo sư Lê Công Đắc bị báo Phong Hóa đặt cho biệt danh là Con gà ba chân. Số là  bà Bé Tý, quả phụ của một ông Tây Chánh chủ Sở Bưu điện Hà Nội, ở phố Hàng Bạc, đã nổi tiếng nhờ chuồng thú của bà có nuôi nhiều con vật lạ, trong số có một Con Gà Ba Chân. Phong Hóa cho rằng Lê Công Đắc là một con quái vật như con gà ấy!

Dưới mắt Phong Hóa, luật sư Lê Thăng là con đĩ đánh bồng, tiến sĩ khoa học Nguyễn Công Tiễn chuyên chữa bịnh toi gà, ông Nguyễn Văn Vĩnh thì bụng bự, ông Nguyễn Văn Tố được gọi là ông Búi Tó, Nguyễn Tiến Lãng lại là con ve sầu còn thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu lúc nào cũng say túy lúy…

Trên hí họa Ông Nguyễn Khắc Hiếu dậy văn chương của Tuly (Tứ Ly, Hoàng Đạo) có caption: Tản Đà: Các ngài muốn hỏi tôi cách làm thơ ru? Khó gì đâu: tửu nhập thi xuất!


Tản Đà lúc nào cũng… say túy lúy

Cái khôn khéo của Nguyễn Tường Tam là biết lợi dụng đúng lúc sự chán nản của tinh thần thanh niên và dân chúng để phát hành tờ báo Phong Hóa, chuyên về hài hước, cốt làm cho độc giả cười nhưng lại phải suy gẫm. Ông dùng giọng trào phúng để đả kích cái phong hóa cũ kỹ của xã hội Việt Nam qua hai nhân vật lố bịch mà ông đặt tên là Lý Toét và Xã Xệ. Họ tượng trưng cho tất cả những gì hủ lậu, quê mùa, ngớ ngẩn của người An Nam trước cái văn minh tân tiến của Pháp.

Cái “tên” Lý Toét được ra đời trước rồi mới đến “hình hài” của Lý Toét được vẽ ra sau. Khởi thủy, nhân vật Lý Toét được Tú Mỡ khai sinh từ năm 1930 trên báo Tứ Dân và sang đến Phong Hóa, Lý Toét mới xuất hiện lần đầu tiên trên báo với hình ảnh một ông già nhà quê, có chức lý trưởng trong làng nên được goi là Lý. Cụ Lý vốn bị bệnh đau mắt hột từ bé, thành ra kèm nhèm như viền vải tây, ngày xưa ta gọi là… mắt toét. Việc nhập hai chữ Lý và Toét vào nhau thành tên chứ Lý Toét cũng là cả một nghệ thuật khôi hài.

Nhân vật Lý Toét đã đi vào cuộc sống của mọi người thời đó. Hồi còn ấu thơ, tôi nhớ mãi câu: “Ông Lý Toét đi đôi giày chuột khoét…”. Người ta quen với hình ảnh Lý Toét đầu đội khăn đóng, tay xách ô (nhưng ít khi giương ra), chân thỉnh thoảng mang giầy Gia Định (vì ông sợ giầy mòn nên thường cặp vào nách hay treo vào cán ô!)…


TẬP KIỀU
Đội giời đạp đất ở đời
Nguyễn Văn Lý Toét vốn người Việt Nam

Lý Toét biết đọc chữ quốc ngữ, biết ít chữ nôm, chữ nho, nhưng lại hoàn toàn không hiểu tiếng Pháp, nên có nhiều phen nhầm chữ nọ sang chữ kia. Vì nghèo nên Lý Toét tham ăn, lại nghiện rượu, tính ích kỷ, chỉ muốn mình được phần to, thêm nữa, không hiểu gì về vệ sinh, ăn ở dơ bẩn...

Lý Toét rất mê tín, thờ đủ mọi loại thần thánh, từ con cóc sành trên bể nước ngoài vườn hoa, đến con hổ sống trong chuồng Vườn Bách thú Hà Nội. Vì cả đời sống ở thôn quê nên mỗi khi ra tỉnh Lý Toét thấy hoàn toàn khó hiểu khi nhìn những thứ văn minh ngoài phố, chẳng hạn như thấy vòi nước công cộng ông nghĩ bụng: Quái! bia ai mà lạ vậy!


LÝ TOÉT RA TỈNH
Lý Toét nghĩ: Quái! bia ai mà lạ vậy!!

Báo Xuân Phong Hóa, số 85, cho biết vợ con Lý Toét ở quê rất lếch thếch nhưng lại có một cô con gái lớn tên là Ba Vành, cô này xưa bỏ nhà ra đi, rồi lấy Tây. Thỉnh thoảng cụ Lý có xuống vùng mỏ thăm con gái. Họa sĩ Kỳ Nam vẽ bức tranh Lý Toét bị phạt 3 tháng tù vì tội gửi thư bằng con tem đã đóng dấu, Lý Toét ngây thơ, tự biện hộ trước tòa: “Bẩm ngài xét xử cho chứ lần nào con nhận được thư của cái Ba Vành gửi về là cũng thấy tem có đóng dấu!”.



Năm 1930, trên báo Tứ Dân, lần đầu tiên xuất hiện một nhân vật có tên Lý Toét do Tú Mỡ (Hồ Trọng Hiếu) giới thiệu nhưng phải đợi đến Phong Hóa hình tượng của nhân vật này mới có mặt trên báo qua nét vẽ của họa sĩ Đông Sơn (Nguyễn Tường Tam). Ngay từ số báo Phong Hóa số 14, Lý Toét đã xuất hiện trong bức tranh chuyến xe ra tỉnh, Nhất Linh để ông ngồi trên mui xe giữa một rừng người và súc vật.

Lý Toét xuất hiện lần đàu tiên trên báo Phong Hóa, Số 14

Cho tới nay, có người bảo họa sĩ Nguyễn Gia Trí đã sinh ra Lý Toét vì căn cứ vào bút hiệu viết tắt Gtri trên một số tranh vẽ. Rồi sau đó, ai vẽ cũng được, dù là họa sĩ hay người yêu hội họa, miễn là bức tranh có ý nghĩa Phong Hóa và Ngày Nay đều đăng. Người đó có thể là Đông Sơn (tức nhà văn Nhất Linh), hay Tô Tử hoặc Ái Mỹ (họa sĩ Tô Ngọc Vân), hoặc Lemur (họa sĩ Nguyễn Cát Tường, người vẽ kiểu áo dài tân thời Lemur).

Cha đẻ của Xã Xệ lại là họa sĩ Bút Sơn, từ Saigon gửi tranh vẽ ra Hà Nội. Bút Sơn tạo ra Xã Xệ để làm “đối trọng” với Lý Toét, cũng tương tự như việc ký tên Bút Sơn để nhái tên của Đông Sơn (Nguyễn Tường Tam).

Cho đến lúc lìa đời, Nhất Linh vẫn chưa biết tên thật của Bút Sơn. Trên tờ di cảo Đời làm báo ghi tất cả tên và bút hiệu các cộng sự viên, trong cũng như ngoài Tự Lực Văn đoàn, Nhất Linh viết: “Bút Sơn ở Saigon (Người đẻ ra Xã Xệ), tên thật chưa biết. Xin ông Bút Sơn (nếu ông còn sống) hoặc các bạn, cho biết tên thật”.


Xã Xệ & Lý Toét

Nhà báo kiêm nhà thơ trào phúng Tú Kềnh, viết trên báo Bình Minh (Xuân Mậu Thân 1968 xuất bản ở Saigon) như sau: “…Vào năm 1936 báo Phong Hóa, nhóm Tự Lực Văn Ðoàn, ở Hà Nội, có tổ chức cuộc thi vẽ tranh hài hước, họa sĩ chuyên vẽ tranh hài hước Bút Sơn Lê Minh Ðức ở Saigòn vẽ một bức tranh gửi ra Bắc dự thi”.

Lần đầu tiên Xã Xệ xuất hiện trong tranh ký tên Bút Sơn là ngày 16/3/1934, trên Phong Hóa số 89. Xã Xệ đã được đón tiếp thật nồng hậu, Xã cùng Lý lên ngay trang bìa của báo qua bức hí họa về Lý Toét và Xã Xệ. Số là ngày xưa mỗi lần cân phải mất 1 xu, hai cụ chỉ có 1 xu mà muốn được cân cả hai nên Lý Toét nảy sinh ra “sáng kiến”: cùng leo lên một lần rồi chia đôi trọng lượng!


Xã Xệ: Bác Toét, chúng mình có 1 xu làm sao cân được hai đứa?
Lý Toét: Thế này thì nhất cử lưỡng tiện, cân luôn một lần hai đứa rồi chia hai ra thì cũng được chứ lị.

Tháng 6/1935, báo Phong hóa bị nhà cầm quyền ra lệnh đóng cửa ba tháng vì loạt bài Đi xem mũ cánh chuồn châm biếm Tổng đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu thuộc triều đình Huế. Sau đó ra tiếp được hơn một năm, thì bị đóng cửa vĩnh viễn (số cuối 190 ra ngày 5/6/1936) cũng vì tội… “chế nhạo” ngay cả chính phủ bảo hộ. Hí họa Mẫu quốc (Nước mẹ) là một thí dụ điển hình về tính châm biếm của Phong Hóa đã đụng chạm đến chính quyền bảo hộ. Bức tranh có đối thoại như sau:

LÝ TOÉT - Này bác, Ủy ban điều tra sắp làm xong công việc rồi đấy. Chắc sẽ có kết quả tốt.
BA ẾCH - Ồ, trông mong… nước mẹ gì!


Sau khi Phong Hóa bị đóng cửa, tuần báo Ngày nay trước ra kèm với tờ Phong hóa được tục bản để tiếp tục công cuộc đang dở dang (số cuối 224 ra ngày 7 tháng 9 năm 1940). Tờ Ngày nay do Nguyễn Tường Cẩm (anh của Nhất Linh) điều khiển lại nhanh chóng ra đời.

Phong Hóa cũng như Ngày Nay, tờ nào cũng đông độc giả khiến cho thực dân Pháp lo sợ trước tầm ảnh hưởng ngày càng lan rộng của Tự Lực Văn đoàn. Đến năm 1939, người Pháp ra lệnh cho đóng cửa nốt tờ báo Ngày nay, chấm dứt một thời kỳ báo chí châm biếm kéo dài 7 năm tại miền Bắc, từ 1932 đến 1939. 


Bìa báo Ngày Nay

Để việc làm báo Phong Hóa được thuận lợi hơn, Nguyễn Tường Tam cùng với các cộng sự quyết định thành lập một bút nhóm lấy tên là Tự Lực Văn đoàn. Một thành viên ban đầu của bút nhóm là nhà thơ Tú Mỡ kể lại:

“...Tất cả những gì dự định cho báo ‘Tiếng cười’, anh Tam dồn cả cho báo Phong Hóa mới... Báo làm ăn phát đạt, và mặc dù anh em làm việc quên mình, không vụ lợi, nhưng anh Tam vẫn phải chạy tiền khá chật vật để mỗi tuần kịp trả đủ cho nhà in và tiền mua giấy...

Cuối năm đó (1932), tính sổ mới ngã ngữa ra: lời lãi chia theo số vốn, phần lớn chui vào két của nhà tư sản... Anh Tam bèn họp bàn với anh em, và đồng ý với nhau rằng: Không thể chơi với nhà tư sản được. Quyết định thành lập ‘Tự lực văn đoàn’  trên nguyên tắc làm ăn dựa vào sức mình, theo tinh thần anh em một nhà; tổ chức không quá 10 người nên không phải xin phép Nhà nước; không cần có văn bản điều lệ: lấy lòng tin nhau làm cốt, chỉ nêu ra trong nội bộ mục đích tôn chỉ, anh em tự giác tuân theo...”.

Tự Lực Văn đoàn chính thức tuyên bố thành lập vào ngày 2/3/1934. Đây là một tổ chức văn học đầu tiên của Việt Nam mang đầy đủ tính chất một hội đoàn sáng tác theo nghĩa hiện đại. Có thể nói, Tự Lực Văn đoàn là một tổ chức văn học đầu tiên trong lịch sử văn chương của dân tộc Việt do tư nhân chủ xướng, không dính líu đến vua quan, thân hào như các thi xã kiểu cũ như Tao đàn Nhị thập bát Tú, Tao đàn Chiêu Anh Các, Mặc Vân thi xã và cũng không phát ngôn cho tiếng nói của quyền lực như các nhóm Đông Dương Tạp chí, Nam Phong Tạp chí. Dưới đây là tuyên ngôn của văn đoàn:

Tự lực văn đoàn họp những người đồng chí trong văn giới; người trong đoàn đối với nhau cốt có liên lạc về tinh thần, cùng nhau theo đuổi một tôn chỉ, hết sứ giúp nhau để đạt được mục đích chung, hết sức che chở nhau trong những công cuộc có tính cách văn chương.

Người trong Văn đoàn có quyền để dưới tên mình chữ Tự Lực Văn đoàn và bao nhiêu tác phẩm của mình đều được Văn đoàn nhận và đặt dấu hiệu.

Những sách của người ngoài, hoặc đã xuất bản, hoặc còn bản thảo, gửi đến Văn đoàn xét, nếu hai phần ba người trong Văn đoàn có mặt ở Hội đồng xét là có giá trị và hợp với tôn chỉ thì sẽ nhận đặt dấu hiệu của Đoàn và sẽ tùy sứ cổ động giúp. Tự Lực Văn đoàn không phải là một hội buôn xuất bản sách.

Sau này nếu có thể được, Văn đoàn sẽ đặt giải thưởng gọi là giải thưởng Tự Lực Văn đoàn để thưởng những tác phẩm có giá trị và hợp với tôn chỉ của Đoàn.

***

Chú thích:

[*] Nguyễn Tường Tam (1906 - 1963) là một nhà văn, nhà báo với bút danh Nhất Linh, Tam Linh, Bảo Sơn, Lãng Du, Tân Việt, Đông Sơn... Ông là người thành lập Tự Lực Văn đoàn và là cây bút chính của nhóm, và từng là Chủ bút tờ tuần báo Phong Hóa, Ngày Nay. Về sau, ông còn là người sáng lập Đại Việt Dân chính Đảng, từng làm bí thư trưởng của Việt Nam Quốc dân Đảng và giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Năm 1924, ông theo học ngành Y và Mỹ Thuật, nhưng chỉ một năm rồi bỏ học. Năm 1926, Nguyễn Tường Tam vào Nam, gặp Trần Huy Liệu và Vũ Đình Di định cùng làm báo. Nhưng vì tham dự đám tang Phan Chu Trinh nên hai người này bị bắt, Nguyễn Tường Tam phải trốn sang Cao Miên, sống bằng nghề vẽ và tìm đường đi du học.

Năm 1927, Nguyễn Tường Tam sang Pháp du học. Năm 1930, ông đậu bằng Cử nhân Khoa học Giáo khoa (Lý, Hóa) và trở về nước trong năm đó. Năm 1932, ông mua lại tờ tuần báo Phong Hóa của Phạm Hữu Ninh và Nguyễn Xuân Mai, và trở thành Giám đốc kể từ số 14 với chủ trương dùng tiếng cười trào phúng để đả kích các hủ tục phong kiến, hô hào Âu hóa, đề cao chủ nghĩa cá nhân.

Năm 1936, trên báo Ngày Nay, Nguyễn Tường Tam cùng nhóm Tự Lực Văn đoàn phát động phong trào Ánh Sáng, một tổ chức từ thiện với mục đích cải tạo nếp sống ở thôn quê, trong đó có việc làm nhà hợp vệ sinh cho dân nghèo. Năm 1938, ông thành lập đảng Hưng Việt, rồi đổi tên là đảng Đại Việt Dân.

Năm 1940, Hoàng Đạo, Khái Hưng, Nguyễn Gia Trí bị người Pháp bắt và đày lên Sơn La, đến năm 1943 mới được thả. Trong thời gian này, Thạch Lam và Nguyễn Tường Bách tiếp tục quản trị tờ Ngày Nay.

Năm 1942, Nhất Linh chạy sang Quảng Châu, Thạch Lam mất tại Hà Nội vì bệnh lao và Đại Việt Dân chính Đảng thì đã gần như tan rã. Nguyễn Tường Tam hoạt động trong Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội, rồi về Côn Minh hoạt động trong hàng ngũ Việt Nam Quốc dân đảng. Tháng 3/1944, tại Liễu Châu, Nguyễn Tường Tam được bầu làm ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội, tức Việt Cách.

Khi quân Tưởng Giới Thạch vào Việt Nam đầu năm 1946 Nguyễn Tường Tam trở về Hà Nội, tổ chức hoạt động đối lập với chính quyền Việt Minh, xuất bản báo Việt Nam. Tháng 3/1946, sau khi đàm phán với chính phủ, ông giữ chức Bộ trưởng Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến.

Năm 1953, Nguyễn Tường Tam lên sống tại Đà Lạt. Năm 1958 về Sài Gòn, ông xuất bản giai phẩm Văn Hóa Ngày Nay, phát hành được 11 số thì bị đình bản. Năm 1960 ông về Sài Gòn thành lập Mặt trận Quốc dân Đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chính của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Đảo chính thất bại, ông bị chính quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng.

Cuối cùng, ông bị chính phủ Ngô Đình Diệm gọi ra xử ngày mùng 8/7/1963. Đêm 7/7, tại nhà riêng, nghe tin sẽ bị đưa ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam dùng thuốc độc quyên sinh để phản đối chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm, để lại phát biểu nổi tiếng:

“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả. Sự bắt bớ và xử tội những phần tử quốc gia đối lập là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản. Vì thế tôi tự hủy mình cũng như Hòa thượng Thích Quảng Đức đã tự thiêu là để cảnh cáo những ai chà đạp mọi thứ tự do.”


Đám tang Nguyễn Tường Tam

Tác phẩm của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam:

Tiểu thuyết
Gánh hàng hoa (cùng Khái Hưng, 1934)
Đời mưa gió (cùng Khái Hưng, 1934)
Nắng thu (1934)
Đoạn tuyệt (1934-1935)
Lạnh lùng (1935-1936)
Đôi bạn (1936-1937)
Bướm trắng (1938-1939)
Xóm cầu mới (1949-1957, viết dở dang)
Giòng sông Thanh Thủy (1960-1961). Tác phẩm cuối cùng, gồm ba tập:
Ba người bộ hành
Chi bộ hai người
Vọng quốc

Tập truyện
Nho phong (1924)
Người quay tơ (1926)
Anh phải sống (cùng Khái Hưng, 1932 - 1933)
Đi Tây (1935)
Hai buổi chiều vàng (1934-1937)
Thế rồi một buổi chiều (1934-1937)
Thương chồng (1961)

Tiểu luận
Viết và đọc tiểu thuyết (1952-1961)

Dịch phẩm
Đỉnh gió hú của Emily Bronte (đăng báo 1960, xuất bản 1974)


Mặc dầu thời gian theo học Trường Mỹ thuật không lâu, Nhất Linh cũng đã để lại một số tranh vẽ trong đó có bức Scène de Marché de rue Indochinois (Cảnh Phố Chợ Đông Dương) vẽ trên lụa thực hiện khoảng 1926-1929. Bức tranh này năm 2010 được hãng Sotheby's bán đấu giá ở Hương Cảng với giá 596.000 đô-la Hồng Kông, tương đương với 75.000 Mỹ kim.

Tuesday, January 1, 2019

Báo chí Việt-Nam (1/7): Miền Bắc thời Pháp thuộc

Từ Nguyễn Văn Vĩnh đến Phạm Quỳnh

Sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ - Biên Hòa, Gia Định, Định Tường - bị nhượng cho Pháp qua hòa ước năm 1862, Gia Định báo phát hành tại Sài Gòn ngày 15/4/1865 là tờ báo quốc ngữ đầu tiên trên toàn quốc. Đây là một nguyệt san ra vào ngày 15 mỗi tháng.

Nam kỳ lần lượt xuất hiện những tờ Nhật trình Nam Kỳ (1883), Phan Yên báo (1898), Nông Cổ Mín Đàm (1901), Nhật Báo Tỉnh (1905), Lục Tỉnh Tân văn (1907), Nam Kỳ Địa phận (1908), Tân Đợi Thời báo (1916, sau đổi thành Công Luận báo), Nam Trung Nhật báo (1917), An Hà Báo (1917, ở Cần Thơ), Đại Việt Tạp khí (1918, ở Long Xuyên), Nữ Giới chung (1918)…

Riêng tại miền Bắc, mãi đến năm 1893 mới thấy xuất hiện tờ Đại Nam Đồng văn Nhật báo (Tờ báo hàng ngày của nước Đại Nam chung một văn tự). Đây là tờ công báo do người Pháp cung cấp kinh phí để đăng các thông báo, nghị định của chính quyền bảo hộ nhằm vào giới nho sĩ miền Bắc nên được in bằng Hán văn và về sau có cả phần quốc ngữ.

Đại Nam Đồng văn Nhật báo gồm 8 trang, giá bán 2 nguyên (2 xu) và phạm vi phát hành bao gồm Bắc kỳ và Trung kỳ. Năm ra số báo đầu tiên chưa được xác định rõ vì theo Dương Quảng Hàm trong Việt Nam văn học sử yếu, báo phát hành năm 1892, trong khi đó, Trần Huy Liệu trong Giới thiệu lịch sử báo chí Việt Nam lại cho là năm 1893. Nếu căn cứ theo số báo xưa nhất còn lưu trữ đến ngày nay (số 171, ngày 27/1/1895) tính ngược trở về trước thì Đại Nam Đồng văn Nhật báo có thể ra đời từ năm 1891, tức năm Thành Thái thứ 3.   

Theo Bách khoa thư (Hà Nội, tập 13), Đại Nam Đồng văn Nhật báo từ số 273, ngày 2/1/1897 có 2 trang dạy chữ quốc ngữ, đến số 793 ngày 28/3/1907 đổi tên là Đại Nam Đăng Cổ Tùng Báo (Tập báo khêu đèn gióng trống) cho đến số báo cuối cùng (số 826, ngày 14/11/1907).

Chủ nhiệm báo là F. H. Schneider (người Pháp gốc Đức), chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh [1] phụ trách phần tiếng Việt; Đào Nguyên Phổ và Phan Kế Bính lo phần chữ Hán.


Tên “Đại Nam Đồng văn Nhật báo” (số báo 793, ngày 28/3/1907) vẫn còn giữ ở giữa
khi báo được đổi thành “Đăng cổ Tùng báo” phía bên phải

Tờ báo thuần túy quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ là tuần báo Đông Dương Tạp chí (1913 - 1919), ra mắt ngày 15/5/1913, cũng do F. H. Schneider làm giám đốc và Nguyễn Văn Vĩnh giữ chức chủ bút. Thực ra, đây là một phụ bản của tờ Lục tỉnh tân văn xuất bản ở Sài Gòn. Tính ra, Đông Dương Tạp chí tồn tại được 6 năm 4 tháng thì đình bản.

Đông Dương Tạp chí ra đời nhằm mục đích “đem văn chương học thuật, đem ân huệ văn minh của nhà nước Lang Sa mà khua sáo cho lấp được những lời gây loạn”. Quan điểm của Soái phủ Nam Kỳ cũng được ghi rõ trong số báo đầu tiên: “Đã đến lúc cần mở mang giáo dục, truyền bá học thuật và tư tưởng Pháp, tạo cho việc đưa chữ quốc ngữ vào quỹ đạo xâm lăng văn hoá đánh bạt chữ Nho”.

Bài viết Cẩn cáo trên Đông Dương Tạp chí số ra mắt đã xác định: “Bản báo vì có việc nguy-biến phải vội-vàng in ra, cho nên kỳ đầu này không kịp trình duyệt-báo chư quân tử, chủ-nghĩa báo này thế nào, và lối in, lối soạn chương mục báo có những gì, không kịp nói cho rõ được. Đến kỳ sau bổn-quán xin kể minh bạch chương-trình, chủ- nghĩa. Nay hãy nói đại cương để các ngài biết. Mỗi kỳ sẽ có một bài tổng thuật các việc trong tuần-lễ, một bài đại luận về thời-sự, các điện- báo- hoàn-cầu, các điều nên biết về buôn bán…”

Số báo đầu tiên cũng nêu ra vấn đề: “Cổ động cho dân An-nam lấy văn Quốc-ngữ làm quốc văn, làm gốc nghề học… Bổn quán lại mở ra một chương đề là Đăng-văn cổ để lấy ra nhờ sở-ước thực và lẽ phải của dân an-nam mà dâng lên cho chánh-phủ biết và đem những ý cao Nhà-nước mà tỏ cho dân hay”.

Bên cạnh đó, Đông Dương Tạp chí còn có một mục đích chính trị là tuyên truyền cho chính sách bảo hộ của người Pháp. Một số nhà nghiên cứu nhận định có hẳn hai phía trong  Đông Dương Tạp chí: (1) Đối với người sáng lập Schneider và những người Pháp đứng sau tờ báo thì mục tiêu chính trị là quan trọng nhất; (2) Đối với những người Việt Nam cộng tác, đứng đầu là Nguyễn Văn Vĩnh, cũng muốn dùng tờ báo để tuyên truyền cho việc duy tân đất nước và xây dựng một nền văn học mới.


Bìa ‘Đông Dương Tạp chí’

Về hình thức, ở đầu trang nhất, dưới tên Đông Dương Tạp chí có dòng chữ “Edition spéciale du ‘Lục tỉnh tân văn’ Pour le Tonkin et L’ Annam” (ấn bản đặc biệt của Lục tỉnh tân văn ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ), tiếp đó là dòng chữ Đông Dương Tạp chí bằng chữ Hán, theo sau là phần mục lục được đặt ở phía lề bên trái.

Sau gần 5 năm tồn tại, người ta có thể tóm lược những giai đoạn phát triển của tờ báo gồm:

(1) Hai năm đầu 1913-1914, Đông Dương Tạp chí cung cấp nội dung khá phong phú về mọi mặt trong đời sống xã hội lúc bấy giờ và đồng thời xây đắp một nền quốc văn mới qua các mục như Thời sự tổng thuật, Điện báo, Quan báo lược lục, Đông Dương thời sự, Nhời đàn bà, Tự do diễn đàn, Việc buôn bán và Sách dạy tiếng An-nam.

(2) Năm 1915 trở đi, tờ báo đã có một bước ngoặt lớn với nội dung dịch thuật và đăng tải các tư tưởng học thuật và đặc biệt chú trọng đi sâu vào đề tài văn chương với các tiết mục như Gương phong tục, Chuyện Hoa tiên, Kim Vân Kiều, Bình phẩm sách mới, Văn Nôm cổ và Văn Nôm đàng trong.


Đông Dương Tạp chí

Chủ bút Đông Dương Tạp chí, Nguyễn Văn Vĩnh, bút hiệu Tân Nam Tử, là một học giả nổi tiếng với câu nói: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc ngữ” (trong lời tựa cuốn Tam quốc chí của Phan Kế Bính, xuất bản năm 1909). Ban biên tập gồm nhiều cây bút có tâm huyết như Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn… tờ báo còn có tham vọng truyền bá tư tưởng Âu Tây qua những tác phẩm nổi tiếng của nước ngoài, phần đông là của nước Pháp.

Để ghi nhớ công lao xây dựng văn hóa Pháp-Việt, chính phủ Pháp đã hai lần ban tặng cho Nguyễn Văn Vĩnh Bắc đẩu Bội tinh. Tuy nhiên, cả hai lần ông đã từ chối, Nguyễn Văn Vĩnh là người Việt Nam đầu tiên khước từ danh hiệu này. Tuy nhiên, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông vẫn bị Việt Minh kết tội “làm tay sai cho Pháp”, “bồi bút”, “bán nước”…

Có giai thoại kể rằng khi bị gán cho cái tội “bán nước”, Nguyễn Văn Vĩnh đã trả lời: “Nước mất từ khi tôi chưa ra đời thì sao lại có tội… bán nước!” Nguyễn Văn Vĩnh được coi như là Thủy tổ Nhà báo Bắc Kỳ, ông còn là người sáng lập nhà in đầu tiên ở Hà Nội, xuất bản cuốn Truyện Kiều và Tam Quốc Chí…

Cũng trong năm 1913, Schneider còn phát hành tờ Trung Bắc Tân văn và cũng giao cho Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách. Lúc đầu, ra hàng tuần vào ngày Chủ nhật; từ tháng 10/1915 ra một tháng 2 kỳ, sau đó nâng lên 3 kỳ và cuối cùng là tờ báo ra hàng ngày duy nhất phát hành rộng khắp Bắc Kỳ và Trung Kỳ.

Chính quyền bảo hộ khai thác tờ Trung Bắc Tân văn như một diễn đàn chính trị-xã hội phục vụ cho chế độ thuộc địa, nhưng nó cũng trở thành một môi trường hoạt động văn hóa thu hút nhiều cây bút nổi tiếng đương thời. Tờ báo tồn tại đến tháng 4/1941 mới đình bản, tổng cộng 7.265 số, được coi là một trong những tờ báo ra được nhiều số nhất. Sau khi Nguyễn Văn Vĩnh mất năm1936, người kế tục là Nguyễn Văn Luận và Phạm Huy Lục.


Trung Bắc Tân văn

Với chủ trương “trực trị”, Nguyễn Văn Vĩnh ra mặt chống chính phủ Nam triều và cực lực phản đối chủ trương “lập hiến bảo hoàng” của Phạm Quỳnh [2] với tờ Nam Phong tạp chí. Đây là một nguyệt san, kích thước 19 x 27,5 cm, với số ra mắt ngày 1/7/1917 và đến tháng 12/1934 thì đình bản, tổng cộng kéo dài 17 năm và 210 số.

Việc thành lập tạp chí Nam Phong là chủ trương của chính phủ Liên bang Đông Dương do Toàn quyền Albert Sarraut đề xướng với mục tiêu đẩy mạnh vai trò văn hóa và chính trị của nhà nước bảo hộ nên kinh phí của báo là do chính phủ trang trải.

Tạp chí Nam Phong ra đời với sự giám sát của Louis Marty, Giám đốc Phòng an ninh và chính trị Đông Dương, Thượng Chi (Phạm Quỳnh) vừa đứng tên Chủ nhiệm lẫn Chủ bút, khi đó ông mới 25 tuổi, ngoài ra còn có Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác) làm Chủ biên phần chữ nho.

Phải nhìn nhận đây là tạp chí đã góp phần vào việc truyền bá chữ quốc ngữ trong buổi giao thời tại miền Bắc. Nam Phong cũng là một trong những tạp chí Việt Nam đầu tiên đăng nhiều bài văn, thơ, truyện ngắn, phê bình văn học, và tài liệu lịch sử bằng quốc ngữ.


Bìa 'Nam Phong Tạp chí'

Phạm Quỳnh đã để lại một câu nói hàn súc, không những đánh giá giá trị nhân bản và nghệ thuật mà còn nói lên một tinh thần yêu nước cao độ của một học giả: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn”.

Ngay trong số 1 (tháng 7/1917) Nam Phong Văn học-Khoa học tạp chí, Phạm Quỳnh đã viết Mấy nhời nói đầu giới thiệu nội dung tạp chí mới xuất bản, ông cảm xúc thốt lên: “Ôi! trong sách có câu: Gió phương nam ấm áp, khá lấy giải được cái lòng hờn giận của dân ta! Ước gì bản báo cũng khiến được các bạn đọc báo có cái cảm giác như cái cảm giác gió Nam Phong! Bởi thế, đặt tên báo.”

Phạm Quỳnh đã đặt tên báo dựa vào bài phong dao Nam Phong ca tương truyền do vua Thuấn sáng tác trong Kinh Thi:

Nam Phong chi huân hề         
Khả dĩ giải ngô dân chi uẩn hề.         
Nam phong chi thời hề          
Khả dĩ phụ ngô dân chi tài hề

Dịch:

Gió Nam mát mẻ vậy thay
Giải tan sầu muộn bao ngày của dân
Gió Nam thổi đúng lúc cần
Sẽ mang phú quí cho dân lâu dài.

Trong bài viết Quốc học và chính trị trên báo Nam Phong (số 165, năm1921) ông nói rõ hơn: “Gầy dựng, tổ chức một nền tản văn thích hợp với đời nay, và có cốt cách An Nam, vừa có thể cách tân thời đủ dùng để diễn được các tư tưởng mới, đó là cái cấp vụ hiện nay, mà là cái đường thứ nhất trong việc gầy dựng một nền quốc học sau này vậy… Nhà văn muốn thờ nước không có cái phương tiện nào hay bằng giúp cho nước nhà có một nền quốc văn xứng đáng. Đó là chủ nghĩa của tôi bấy lâu nay, mà là cái tín điều thứ nhất trong đạo quốc gia của tôi vậy”.


Nam Phong Tạp chí

Bút hiệu Thượng Chi của ông, theo giáo sư Tôn Thất Quy, là trích từ ba câu trong bài thơ “Trữ”, thiên Tề Phong, Kinh Thi, cũng nói lên cái ý trên:

Thượng chi dĩ quỳnh hoa hồ nhi
(Lại có thêm đá quỳnh hoa che khuôn mặt (xinh đẹp của cô gái)
Thượng chi dĩ quỳnh vinh hồ nhi
(Lại có thêm đá quỳnh vinh che mặt)
Thượng chi dĩ quỳnh anh hồ nhi
(Lại có thêm đá quỳnh anh che mặt)

Như vậy, bút hiệu Thượng Chi với ý “lại có thêm, cần có thêm tức thu nhập thêm những cái hay đẹp của các nền văn minh khác (các loại quỳnh – Quỳnh cũng là tên của ông, một cách chơi chữ tế nhị) bên cạnh bản sắc dân tộc đáng quý của chúng ta (khuôn mặt xinh đẹp của cô gái)”.


Nam Phong Tạp chí
(Được đóng thành tập – Quyển 1, từ số 1 đến 6)

Tạp chí Nam Phong có giá 4 hào tiền Đông Dương, in tại Đông Kinh Ấn quán số 14-16 Rue du Coton, Hà Nội. Tiền thân của Nam Phong Tạp chí chính là Âu châu chiến sử viết bằng Hán tự được phủ Toàn quyền Pháp xuất bản và phát không tại Trung Hoa nhằm chống lại thế lực và tố cáo tội ác của phát xít Đức. Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác đã viết cho báo này. Về sau phủ Toàn quyền bàn với ông mở ra một bản tiếng Việt nên Nam Phong mới xuất hiện.

Nam Phong Tạp chí có sự góp mặt của một số cây bút nổi tiếng như Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác), Đông Hồ (Lâm Tấn Phác), Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu), Mân Châu (Nguyễn Mạnh Bổng), Tung Vân (Nguyễn Đôn Phục), Đông Châu (Nguyễn Hữu Tiến), Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Tương Phố, Dương Quảng Hàm… Báo phát hành tổng cộng hơn 210 số, mỗi số hơn 400 trang và đó là một số lượng tư liệu văn học đồ sộ cho những nhà nghiên cứu.


Ba nhà báo Bắc Kỳ: Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh
(Hình chụp tại Paris, 1922)

***

Chú thích:

[1] Ngyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả đồng thời là nhà chính trị vào đầu thế kỷ 20. Khi viết bài, ông ký nhiều bút danh: Tân Nam Tử, Quan Thành, Tông Gia, Lang Gia, Mũi Tẹt Tử, Đào Thị Loan....

Ông sinh ngày 15/6/1882 tại Hà Nội trong một gia đình nghèo nên phải đi chăn bò từ nhỏ và sau đó làm công việc kéo quạt làm mát cho một lớp dạy làm thông ngôn, nhờ đó học lóm được tiếng Pháp. Được hiệu trưởng D’Argence chú ý và nâng đỡ, đến kỳ thi tốt nghiệp, ông được phép dự thi cùng với 40 học sinh khác, và đã đỗ thứ 12 khi mới 10 tuổi. Ông được cấp học bổng để theo học trường thông ngôn (Collège des Intreprêtes) niên khóa 1893-1896, và đã đỗ thủ khoa.

Năm 1896, Nguyễn Văn Vĩnh làm thông ngôn ở Tòa sứ Lào Cai khi mới 15 tuổi. Năm 1902-1905, ông chuyển về Tòa sứ Hải Phòng và Bắc Giang. Thời gian này ông làm cộng tác viên cho tờ Courrier d’Hai Phong (Thư tín Hải Phòng) và tờ Tribune Indochinoise (Diễn đàn Đông Dương).

Được Công sứ Bắc Giang Hauser đánh giá rất cao về tài mẫn tiệp và khả năng nói tiếng Pháp nên đặc cách cho ông làm Chánh văn phòng. Khi viên quan này được cử làm Đốc lý Hà Nội, ông cũng được đi theo. Dưới thời Toàn quyền Beau, nhờ sự giúp đỡ của Hauser, Nguyễn Văn Vĩnh cùng với các bạn đồng chí hướng, lần lượt làm đơn xin thành lập Hội Trí Tri (Hà Nội), Hội Dịch sách, Hội giúp đỡ người Việt đi sang Pháp du học, Đông Kinh nghĩa thục (ông là người thảo điều lệ, viết đơn xin phép, và sau đó là giáo viên tiếng Pháp của trường).

Lo ngại đường lối hoạt động của Đông Kinh nghĩa thục, người Pháp ra lệnh đóng cửa trường vào tháng 11/1907. Sau đó, họ bắt giam Phan Chu Trinh, là một trong số giáo viên của trường. Nguyễn Văn Vĩnh cùng với bốn người Pháp đồng ký tên đòi thả Phan Chu Trinh. Việc làm này cùng với việc cho đăng báo bài Đầu Pháp chính phủ thư của Phan Chu Trinh (dịch từ tiếng Pháp ra tiếng Việt, rồi cho đăng ở phụ trương tờ Đăng cổ tùng báo), khiến Nguyễn Văn Vĩnh bị chính quyền thực dân gọi lên đe dọa.

Năm 1908, ông được bầu vào Hội đồng thành phố Hà Nội. Cùng năm này, ông xin ra tờ Notre Journal (Nhật báo của chúng ta). Năm 1910, ông xin ra tờ Notre Revue (Tạp chí của chúng ta). Báo này ra được 12 số. Cùng năm đó, ông vào Sài Gòn vào làm cố vấn cho tờ Lục tỉnh tân văn.

Năm 1932, ông đi dự họp Đại Hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương tại Sài Gòn. Trong một buổi họp, ông đã thay mặt giới doanh nghiệp phản đối việc chuyển đồng tiền Đông Dương từ ngân bản vị sang kim bản vị, vì có lợi cho ngân hàng Pháp, nhưng lại có hại cho nền kinh tế Đông Dương. Khi đang họp thì Nguyễn Văn Vĩnh nhận được trát của tòa án đòi tịch biên toàn bộ gia sản. Tháng 3/1936, Nguyễn Văn Vĩnh quyết định đi tìm vàng để trả nợ, ông sang Sê Pôn (Lào) với một người Pháp có tên là A. Climentte cũng đang ngập nợ vì làm ăn thua lỗ.

Ngày 1/5/1936, người ta tìm thấy thi thể Nguyễn Văn Vĩnh trên con thuyền độc mộc, một tay cầm bút và tay kia cầm quyển sổ ghi chép Một tháng với những người tìm vàng tại dòng sông Sê Băng Hiêng (tên một nhánh của sông Sê Pôn, Lào). Nhà cầm quyền loan báo: Nguyễn Văn Vĩnh chết ngày 2/5/1936 (lúc ấy, ông 54 tuổi). Sau đó, thi hài Nguyễn Văn Vĩnh được đưa về Hà Nội để cử hành tang lễ trong 3 ngày, từ 6 đến 8/5/1936. Tại buổi lễ tang, đông đảo giới báo chí của cả ba kỳ đã đến tiễn đưa ông dưới dòng chữ: “Kính viếng Ông Tổ của nghề báo”.


Đám tang Nguyễn Văn Vĩnh, ngày 8/5/1936

Những tác phẩm nổi bật của Nguyễn Văn Vĩnh:

Xét tật mình (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 6)
Phận làm dân (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 48)
Chỉnh đốn lại cách cai trị dân xã (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 61)
Nhời đàn bà (khởi đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 5)
Hương Sơn hành trình (Hành trình thăm chùa Hương, đăng trên Đông Dương tạp chí từ số 41 đến 45)
Một tháng với những người tìm vàng (viết dở dang).

Dịch từ tiếng Pháp sang tiếng Việt:

Thơ ngụ ngôn của La Fontaine (Fables de La Fontaine)
Truyện trẻ con của Perrault (Les contes de Charles Perrault).
Mai nương Lệ cốt (Manon Lescaut), tiểu thuyết của Abbé Prévost.
Ba người ngự lâm pháo thủ (Les trois mouquetaires), tiểu thuyết của Alexandre Dumas.
Những người khốn khổ (Les Misérables), tiểu thuyết của Victor Hugo.
Miếng da lừa (La peau de chagrin), tiểu thuyết của Honoré de Balzac.
Guy-li-ve du ký (Les voyages de Gulliver), truyện của Jonathan Swift.
Tê-lê-mặc phiêu lưu ký (Les aventures de Télémaque), truyện của Fénélon.
Bốn vở kịch của Molière: Trưởng giả học làm sang (Le Bourgeois Gentilhomme), Giả đạo đức (Le misanthrope), Người bệnh tưởng (Le malade imaginaire), Lão hà tiện (L'avare).

Dịch từ tiếng Việt sang tiếng Pháp:

Kim Vân Kiều tân dẫn Pháp văn (tức Truyện Kiều của Nguyễn Du). Đăng từng kỳ trên Đông Dương tạp chí' từ số 18 trở đi.

Dịch từ chữ Hán sang tiếng Pháp:

Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích, đăng trên Đông Dương tạp chí, lớp mới, số 66-68.


Nguyễn Văn Vĩnh

[2] Phạm Quỳnh (1892 - 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn. Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân.

Ông quê ở làng Lương Ngọc, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương, nhưng sinh ở Hà Nội. Mồ côi mẹ từ 9 tháng tuổi, mồ côi cha từ khi lên 9 tuổi. Sau khi đỗ đầu bằng Thành chung, tốt nghiệp Trường trung học Bảo hộ (tức trường Bưởi, còn gọi là trường Thông ngôn), năm 1908, Phạm Quỳnh làm việc ở Trường Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội.

Ông làm chủ bút Nam Phong tạp chí từ năm 1917 đến năm 1932, tuyên truyền cho tư tưởng Pháp Việt đề huề. Cũng trong thời kỳ 1924-1932, ông còn là giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội. Ông còn là Tổng Thư ký Hội Khai trí Tiến đức mà ông tham gia sáng lập và Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ. Năm 1922, ông đã sang Pháp dự Hội chợ triển lãm Marseille rồi diễn thuyết ở cả Ban Chính trị và Ban Luân lý Viện Hàn lâm Pháp.

Cuối năm 1932, ông vào Huế tham gia chính quyền Bảo Đại, thời gian đầu làm Ngự tiền Văn phòng, sau đó làm Thượng thư Bộ Học và cuối cùng giữ chức vụ Thượng thư Bộ Lại (1944-1945).

Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, ông về sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam. Ông bị bắt ngày 23/8/1945 và giam ở lao Thừa Phủ, Huế và bị Việt Minh giết sau đó cùng với nguyên Tổng đốc Quảng Nam Ngô Đình Khôi (anh ruột Ngô Đình Diệm) và Ngô Đình Huân (con trai của Ngô Đình Khôi). Di hài ông được tìm thấy năm 1956 trong khu rừng Hắc Thú, và được cải táng ngày 9/2/1956 tại Huế, trong khuôn viên chùa Vạn Phước.

Gần đây, tại Việt Nam bắt đầu có sự đánh giá công bằng hơn. Từ điển Văn học bộ mới (2004) coi ông là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp một chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hòa, lấy việc canh tân văn hóa để làm sống lại hồn nước. Kể từ năm 2000, nhiều tác phẩm của Phạm Quỳnh đã được xuất bản tại Việt Nam.

Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai của học giả Phạm Quỳnh, vào mùa thu năm 1945, Hồ Chí Minh đã nói với hai người chị của ông là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức rằng: “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng” [!]

Một số tác phẩm chính:

Văn minh luận
Ba tháng ở Paris
Văn học nước Pháp
Chính trị nước Pháp
Khảo về tiểu thuyết
Lịch sử thế giới
Lịch sử và học thuyết Voltaire
Phật giáo đại quan
Cái quan niệm của người quân tử trong Đạo Khổng
Thượng Chi Văn tập (gồm 5 quyển, Nhà xuất bản Alexandre de Rhodes, Hanoi, ấn hành năm 1943).


Phạm Quỳnh, 1930

Monday, December 31, 2018

Xá tội vong nhân

http://chinhhoiuc.blogspot.com/2018/11/xa-toi-vong-nhan.html
Thứ Tư, 21 tháng 11, 2018

Xá tội vong nhân

* Đây là bài viết được sáng tác khi tôi đi “học tập cải tạo” trở về. Thế cho nên, giọng văn cũng như câu chữ trong bài có mang hơi hướng của một người đã từng trải qua một sự “đổi đời” giữa hai chế độ chính trị tại Việt Nam nói chung và Miền Nam nói riêng. Rất tình cờ, tôi tìm lại được bản thào 6 trang giấy đánh máy đã tàn úa vì thời gian. Tôi đã bỏ thì giờ để đánh lại trên máy vi tính… và đây là một bài viết tưởng chừng như đã đi vào quên lãng.

***



Rằm tháng bảy, ngày Xá tội vong nhân.

Hôm nay là buổi họp mặt hàng năm của những “Người-Đã-Chết”. Tùy theo tín ngưỡng của mình, bạn có nhiều ngôn từ để gọi tên họ: những cô hồn, những linh hồn, những bóng ma và cũng có thể là hư vô, là một cái gì đó không tên sau khi đã biến mất trên mặt đất. Họ thuộc thành phần chung chung, chưa đủ xấu để bị đầy xuống cái thế giới đáng sợ mà con người gọi là Địa Ngục, và cũng chưa đủ tốt để được chuyển lên nơi mà con người hằng mơ ước: Thiên đường.

Sở dĩ có buổi họp mặt hôm nay là để những “Người-Đã-Chết” có một ý niệm tổng quát về cái thế giới mà họ đã ra đi và đã quên hết vì “Bát Cháo Lú” đầu tiên và cuối cùng đã nuôi sống họ trong suốt giai đoạn chờ đợi được phân bổ về một trong ba nơi: Thiên Đường, Địa Ngục và Trái Đất. Tất cả những “Người-Đã-Chết” đều trong trắng: không màu da, không chính kiến, không yêu thương-hờn giận và cũng không tham lam-bạo tàn. Tắt một lời, họ “Không” tất cả những cái “Có” đang chi phối đời sống con người trên trái đất.

Trong buổi họp mặt hôm nay, họ sẽ được giải đáp thỏa đáng mọi thắc mắc để chuẩn bị “Làm Người”. Có thể bạn sẽ gặp nhiều câu hỏi thật ngây ngô, nhưng như đã nói ở trên, những “Người-Đã-Chết” đều trong trắng, hóa ra nều đánh giá họ ‘ngây ngô’ chỉ vì ta đã nhìn họ qua con mắt trần tục, đầy thành kiến của con người.

Buổi họp đặt ra để được thuyết trình về trái đất gồm những câu hỏi do những “Người-Đã-Chết” đặt ra. Cũng cần nói thêm, sở dĩ họ thắc mắc vì trong mẫu “Đơn Làm Người” được phát có quá nhiều chi tiết đòi hỏi phải điền đầy đủ theo thủ tục trước khi trở lại với “Thế Giới Thứ Ba”.

Buổi họp mặt bắt đầu và sau đây là biên bản.

- Tại sao phải chọn một trong hai phái Nam hoặc Nữ ghi trong đơn?
- Đây là một vấn đề tế nhị. Trên nguyên tắc, nó không phải là yếu tố để đánh giá địa vị và quyền lợi trong xã hội loài người. Nó được đặt ra chủ yếu là để tái sinh con người, nhờ đó hôm nay các ngươi mới có cơ hội để trở lại trái đất. Ngoài ra, nó còn có mục đích tô điểm cuộc sống con người thêm phong phú qua dạng Tình Yêu, Tình Dục và Hôn Nhân. Nó phong phú ở hình thức đa dạng của cái được gọi là Hạnh Phúc và Đau Khổ. Nó cũng là một sở hữu và đồng thời là một chỗ dựa an toàn nhất và riêng tư nhất của từng cá nhân giữa muôn vàn khía cạnh của cuộc sống. Con người một khi đã có mặt trên trái đất sẽ luôn tìm kiếm Hạnh Phúc trong suốt cuộc đời. Trong số các ngươi có mặt tại đây hôm nay, kẻ nào làm chủ được trái tim mình chắc chắn sẽ được hưởng một trong hai thứ, Hạnh Phúc hoặc Đau Khổ. Ngược lại, những kẻ không hề biết mình có trái tim sẽ đánh mất một trong những quyền lợi thiêng liêng của con người. Các ngươi sẽ chọn Nam hoặc Nữ với tâm trạng của một người đứng giữa vườn hoa muôn sắc. Hãy nhớ, bất cứ hoa nào các ngươi hái đều phục vụ một nục đích cao đẹp là tô điểm cuộc đời làm người của các ngươi trên trái đất.

- Tại sao phải có mầu da mới được làm người?
- Đó không phải là điều kiện để làm người. Ngươi được làm người trước khi ngươi có mầu da. Trắng, đen, vàng, đỏ… trước tiên chỉ để thích nghi với môi trường sống. Chính con ngưới đã chối bỏ nguyên tắc cơ bản này, hậu quả là họ tự làm khổ nhau vì mầu da trên thân thể. Con người tự đặt cho mình một trật tự theo mầu da nên chính họ tạo ra sự hỗn loạn trong cái trật tự đó trên trái đất. Chừng nào con người xóa bỏ được thành kiến vế mầu da thì cuộc sống của họ sẽ thoải mái hơn để còn thực hiện biết bao điều tốt đẹp cho cuộc sống.

- Trong đơn có mục Quốc Gia, xin giải thích rõ hơn.
- Đó là ngôn ngữ của loài người để gọi mảnh đất họ sinh sống. Nếu chỉ như thế, con người đã được hưởng một cuộc sống thanh bình. Khốn nỗi, họ không hài lòng với giới hạn đó: họ chiếm đất sống của đồng loại. Trên thực tế, chữ “Họ” ở đây chỉ là một thiểu số nổi bật trong đa số thầm lặng. “Họ” có thể là những kẻ có một trọng lượng chất xám trong óc nhiều hơn những người bình thường. Ngược lại, đôi khi chất xám trên đầu “Họ” còn nhẹ hơn những người bình thường, bù vào đó, họ có cơ hội nắm được bạo lực trong tay. Ở trái đất, người ta gọi thành phần này bằng một cái tên rất trang trọng: Lãnh Tụ. Các Lãnh Tụ nắm trong tay bạo lực để mở rộng quốc gia. Loài người gọi hành động đó là Chiến Tranh. Chiến thăng trong Chiến Tranh tức là chiếm đất sống của người khác, sống trên đất của người khác, hay trở thành Lãnh Tụ của những người mà trong thâm tâm phải miễn cưỡng chấp nhận vì không đủ sức mạnh để vùng lên. Ở trái đất đã có hai lần chiến tranh lớn và hiện tại đang ráo riết chuẩn bị cho lần thứ ba, được mệnh danh là Chiến tranh Hạt nhân. Một số trong các ngươi có mặt tại đây hôm nay sẽ bị cuốn hút vào cuộc chiến tranh hủy diệt để rồi lại quay trở về đây nếu không sớm có được một nhận thức đúng đắn về hai chữ Quốc Gia.

- Có thể bỏ trống phần Dân Tộc trong đơn không?
- Không. Dân tộc chính là dấu ấn đóng vào thân phận các ngươi từ khi bắt đầu làm người. Nó nói lên nguồn gốc của ngươi, nó hình thành qua thời gian chung sống gắn bó với những người chung quanh từ đời này qua đời khác. Nó cũng chính là cái mà ngươi có thể tự hào hay tủi nhục. Trên trái đất đã có không ít những dân tộc bị xóa tên và đồng hóa nhưng vẫn có mặt trên trái đất. Con người vẫn có thể sống trong thỏa mãn vật chất dù luôn cảm thầy sự tủi nhục tinh thần. Nếu các ngươi không muốn phải sống như vậy thì đừng nhân danh dân tộc mình mà xóa tên và đồng hóa dân tộc khác.

- Xin có vài lời về những chữ “Thành phần Chính trị”.
- Mục này mới được đặt thêm trong đơn cho phù hợp với tình hình thực tế trên trái đất. Gần đây, những xu hướng chính trị đã xuất hiện trong cuộc sống của con người và đang trở thành một đề tài nóng bỏng. Nó có nguy cơ là nguyên nhân của cuộc chiến tranh thứ ba giữa hai luồng ý thức hệ chính trị: Chủ nghĩa Tư bản và Chủ nhĩa Xã hội. Sự kiện này nằm ngoài dự kiến chung vì nó là sản phẩm của những bộ óc con người được hình thành qua những quy luật của cuộc sống. Xét về mục đích, cả hai chủ nghĩa đều nhân danh hạnh phúc của con người. Để đạt được mục đích này, cả hai đều dùng những phương tiện trái ngược và đối kháng nhau đến độ một mất một còn. Các ngươi có thể đứng ngoài hai khối, nhưng số phận của các ngươi vẫn tùy thuộc vào kết quả cuối cùng của cuộc xung đột. Lới khuyên duy nhất là các ngươi hãy xuống trái đất với hình ảnh thân mật và bình đẳng của buổi họp mặt hôm nay giữa những “Người-Đã-Chết” trước khi lăn lộn vào cuộc đời trần tục. Các ngươi có toàn quyền lựa chọn thành phần chính trị cho mình nhưng hãy nhớ: dù thuộc thành phần nào đi nữa, các ngươi vẫn là Người, đã ra đi từ đây và cuối cùng sẽ trở về đây.

- Tôn giáo là gì?
- Nó là sản phẩm của quá trình phát triển tư tưởng con người. Đừng nghĩ rằng nó đã được hình thành tại đây để biện minh cho sự hiện hữu của thế giới “Người-Đã-Chết”. Nếu tư tưởng đã khai sinh ra ý niệm về tôn giáo thì chính tư tưởng cũng có khả năng hủy diệt tác phẩm của mình. Tư tưởng dùng tôn giáo để lý giải những hiện tượng thần bí và dẫn đắt con người sống theo một quy ước được đặt tên là Thiện. Điều này có thể chấp nhận được vì nó Hướng Thượng và phục vụ cho nhu cầu tinh thần của con người. Thật vô lý khi các lãnh tụ quá khích trong những thời đại trước đã biến tôn giáo thành Mục Đích hoặc đã nhân danh nó để tạo ra những cuộc Thánh Chiến, ngụy trang cho những tham vọng về Quốc Gia, Dân Tộc. Như đã nói ở trên, Chủ Nghĩa và Tôn Giáo đều là sản phẩm của Tư Tưởng, nên cả hai đều phải trải qua những xung đột như sự ma xát của các răng cưa trong một guồng máy. Về Tôn Giáo, các ngươi có toàn quyền lựa chọn, thay đổi hoặc không chọn một tôn giáo nào. Vô Thần cũng chính là tôn giáo, cả hai đều là con đẻ của Tư Tưởng. Hãy nhớ, Tự do Tín ngưỡng không những là quyền Theo hay Không theo một tôn giáo nào mà còn là sự Tôn trọng Tư tưởng của người khác. Đùng nhân danh Tự do Tín ngưỡng để đàn áp và chi phối tư tưởng của người khác.

- Trong mục Nghề Nghiệp có nhiều danh từ khó hiểu. Xin giải thích để chúng tôi dễ chọn hơn.
- Hai chữ Nghề Nghiệp sẽ gắn bó với các ngươi từ giai đoạn trưởng thành đến ngày các ngươi không còn đủ sức để làm việc nữa. Tuy nhiên, thành quả của nó vẫn còn ành hưởng sau khi các ngươi biến mất trên mặt đất. Nếu đã làm người, không thể nào không chọn cho mình ít nhất là một nghề. Chọn ngành y, ngươi phải coi sự đau đớn của người khác như sự đau đớn của chính bản thân mình. Đi dạy học, ngươi phải ý thức được trách nhiệm của mình không phải chỉ là truyền đạt kiến thức cho học trò mà còn trách nhiệm tinh thần đối với chúng. Chọn binh nghiệp, ngươi hãy nhớ vũ khí trong tay luôn luôn là con dao hai lưỡi, phải sáng suốt nhận thức được ranh giới giữa Bảo vệ và Xâm lăng, hai hình thức chiến tranh này thường bị vo tròn, bóp méo vì tham vọng của những kẻ chỉ huy. Là nông dân, ngươi phải biết thương quý đất đai, cây cối như một phần thân xác của ngươi. Là công nhân, ngươi phải nghĩ đến người tiêu thụ sản phẩm được làm ra từ những giọt mồ hôi ngươi đổ ra. Nếu chọn nghề cầm bút, ngươi phải viết ra được những điều mình nghĩ để làm sao chia sẻ được sự thông cảm của người đọc. Hãy thành thật với chính mình nếu muốn thuyết phục người khác. Tóm lại, cuộc sống trên trái đất càng tiến bộ bao nhiêu thì phạm vi của nghề nghiệp càng phong phú bấy nhiêu. Các ngươi hãy làm người với một thái độ dứt khoát: lao động chân tay và trí óc là quyền lợi thiêng liêng của con người, không một bạo lực nào có thể tước đoạt được.

 ***

Tôi tỉnh giấc giữa cơn mưa ngâu tháng bảy, tháng của các cô hồn. Tôi bỗng rùng mình. Không phải là sự rùng mình khi đọc “Văn tế Thập loại Chúng sinh” của Nguyễn Du. Đó là cái rùng mình sau những giây phút vừa được sống trong thế giới của “Người-Đã-Chết”. Đó cũng là cái rùng mình trước thực tại sau một giấc mơ hoang đường.

Ở thế giới vô hình, “Họ” đã nghĩ về trái đất quen thuộc của chúng ta như vậy. Trong khi đó, chúng ta tự cho mình quyền “Xá tội Vong nhân” đối với những “Người-Đã-Chết”. Trong cơn chao đảo của con người trước cuộc sống hiện tại, liệu chúng ta có nên dành một phút để rùng mình tự hỏi:

“Ai sẽ xá tội cho những người còn sống?”

***