Saturday, March 19, 2016

Truyện trê cóc

Tôi dùng quyển "Truyện trê cóc" của nhà xuất-bản Tân-Việt (sáng lập năm 1937), tại 235 Phan thanh Giản Sài-gòn (quyển này in theo giấy phép số 126/T.X.B. của bộ Thông-Tin Nam-Phần năm 1954). Hiện nay chưa biết ai là tác giả. Sách được Ưu-thiên Bùi-Kỷ hiệu-đính.

1- Sự tích trong truyện trê cóc

Con cóc đẻ trứng xuống ao, khi nở ra nòng-nọc, cá Trê trông thấy giống mình, đem cả đàn về, nhận làm con. Được ít lâu, cóc ra bờ ao thăm con, tìm mãi không thấy, nhảy xuống ao để dò la tin-tức.Trê thấy động nước, lội ra đuổi cóc đi, lại mắng-nhiếc thậm tệ. Cóc cũng mắng trả lời lại, rồi về bàn với chồng, tìm cách dể lấy lại đàn con. Chồng bàn phát đơn kiện Trê, trong đơn viện cả Chép, Mè, Măng , Trắm và các loại thủy-tộc khác ra làm chứng. Quan phát trát bắt trê và đòi chứng tá đến hầu kiện. Khi đến công-đường, Trê chối không hề bắt con của cóc và các chứng-tá đều khai là không biết. Quan lúc bấy giờ cũng khó xử, vì cóc ở trên cạn, Trê ở dưới nước, sao Trê lại bắt được con của cóc. Song nếu cóc không mất con, sao lại thưa Trê, bèn giam Trê lại để tra xét. Ta còn lạ gì câu: "Nhất nhật tại tù". Trê đã bị giam, tất là bị lại-dịch hành hạ, cực-khổ kể sao cho xiết. Trê bèn cho vợ đi tìm thầy-thợ để gỡ tội. Vợ tìm đến Triều-đẩu, vẫn nổi tiếng là biết nhiều lý-luật. Triều-đẩu cho thủ-hạ là Ngạnh đi thay. Ngạnh lên nha, tìm thông Chiên làm tay trong, rồi khất quan cho về khán-nghiệm. Khi các nha-lại về tận nơi, thấy đàn nòng-nọc hình-dáng giống cá Trê, bèn làm biên-bản, lấy cả lân-bang làm chứng, rồi đem về trình quan, Quan xem biên-bản, theo lời biện-bạch của nha lại, có đủ bằng cớ, tất-nhiên phải cho cóc là vu-khống, bèn tha Trê ra, bắt cóc giam lại.Lúc này đến lượt cóc bị hành-hạ cũng như Trê lần trước, song có lẽ khổ hơn Trê nhiều, vì không những bị tù, lại còn bị mất cả một đàn con nữa. Vợ cóc lại phải đi tìm thầy-thợ để gỡ tội cho chồng. Tìm đến Chẫu-chuột, Ễnh-ương, rồi đến Ếch. Ếch mách cho cóc biết Nhái-bén là tay thầy-kiện rất giỏi. Khi Cóc tìm đến Nhái-bén, Nhái-bén bảo Cóc rằng: "Theo lẽ tự-nhiên của tạo-hóa, con giống nào lại hoàn là giống ấy, nhưng bây giờ đàn con còn ở dưới nước, thì kiện làm gì vội, đợi bao giờ nòng-nọc đứt đuôi lên cạn, bấy giờ sẽ hay". Vợ Cóc nghe lời, về đợi ít lâu, quả-nhiên như lời Nhái-bén nói. Cóc bèn đưa cả đàn con đến trình quan và làm đơn kiện lại Trê. Quan lúc ấy mới biết Cóc là oan, bèn lấy lời lẽ ôn-tồn để an-ủi vợ chồng Cóc và khép Trê vào tội phát-lưu. Cóc về nhà ăn mừng.
2- Cách kết cấu trong truyện


Cuốn truyện có thể chia ra làm ba hồi.
Hồi thứ nhất : Cóc kiện Trê, Trê bị bắt lên quan và bị hậu giam.
Hồi thứ nhì : Trê tìm được cá Ngạnh làm thầy, lên xin quan cho về khán-nghiệm, rồi vì lời trong biên-bản, các nha lại cho nòng-nọc giống Trê, chứ không giống cóc, Cóc bị hậu giam.
Hồi thứ ba : Cóc tìm được Nhái-bén làm thầy ;đợi khi nòng-nọc đứt đuôi lên cạn, Cóc phát đơn kiện lại Trê. Trê bị tội, Cóc được tha về nhà ăn mừng. Cả cuốn đặt theo lối lục-bát, cộng là 396 câu.
3- Văn pháp

a) Cách gieo vần.- Cách gieo vần chia làm hai lối : Vần chính và vần thông. Gần đây văn-gia khi làm vận văn rất chú-trọng về vần chính, hơi sai một tí là cho là xuất vận, nhưng đời xưa hình như không để ý về phần ấy, dùng vần cốt tìm những tiếng có thanh-âm hơi gần nhau mà thôi. Ta có thể nhận thấy ở trong những cuốn văn cũ như Hoàng-trừ, Phạm-công, Phương-hoa, Thạch-sinh, cách dùng vần rất sơ-lược.
Nay xét trong cuốn Trê Cóc như những câu:
tăm: Bọt bèo lầm nước tối tăm,
lên: Động tin Trê mới nổi lên hỏi-dò,
bờ: Lắng ra thấy Cóc bên bờ,
hô: Trê liền quát mắng tri hô vang rầm.
tham: Trê kia đã có lòng tham,
đơn: Được thua quyết kiện một đơn xem mà.
Vậy thiết-tưởng cách gieo vần ở đây là thuộc về lối cổ vận văn.
b) Cách dùng chữ.- Trong cuốn văn có dùng một số ít chữ nho, nhưng toàn là những chữ thông-thường ở chốn dân-gian, mà nhất là những tiếng tố-tụng, như minh-tra, cứu-vấn, bản-nha, phát-sai, bàng-tiếp, dẫn-thôi, quan-pháp như lôi, đoạt nhân thủ tử, hoả-quang kiến-diện v. v. đó là một cuốn văn đặc-biệt dùng được gần hết những tiếng việc quan mà ai ai cũng đều biết nghĩa. Những thứ tiếng này nguyên là chữ nho, thâu-thập vào kho văn-liệu tiếng nôm từ bao giờ, tôi chắc khó lòng tra-cứu cho rõ được.
Nay ta nhận thấy ở trong quốc-âm ta có nhiều thứ danh-từ thuộc về luân-lý, triết-học, văn-chương, hầu hết dùng bằng chữ nho chẳng riêng gì một thứ tiếng tố-tụng. Song tôi nghĩ rằng dân-tộc nào đã hơi có đủ những tiếng nhật-dụng thông-thường ở trong nước, mà còn phải dùng đến tiếng nước ngoài, trước nhất tất là vì sự cần-thiết trong việc giao-thiệp hoặc là vì việc quan, hoặc là vì việc buôn-bán, rồi dần dần tùy theo trình-độ của sự học về thứ tiếng ấy ở trong bản-quốc, nếu mỗi ngày một cao, thì sự thâu-thái về thứ tiếng ngoại-quốc ấy cũng mỗi ngày một nhiều. Nước ta ở trong hồi Bắc-thuộc, sự tiếp-xúc trước nhất và cần nhất đối với người Tàu, tất là sự khai-trình bẩm-báo trong việc quan, vậy nên những thứ tiếng thuộc về án-từ luật-lệ, ta bắt-buộc phải dùng chữ nho, tôi cho đó là thuộc về thời-kỳ thứ nhất, ta mới bắt đầu dùng Hán-tự vào trong quốc-âm, rồi về sau Hán-học ở nước ta dần dần thịnh lên, thì Hán-tự nhập vào trong quốc-âm cũng dần dần thêm lên, như những tiếng luân-lý, triết-lý, văn-chương càng ngày càng ở ngoài đem đến, làm cho kho từ-liệu của ta phong-phú mãi ra.
Nay ta thử theo thứ-tự xét từ Nguyễn Trãi gia-huấn đến Hồng-đức văn-tập, Bạch-văn-am văn- tập rồi đến truyện Hoa-tiên, truyện Kim Vân Kiều, ta nhận thấy con đường phát-triển của thứ tiếng Hán Việt hình như đi lên từng cung một; nghĩa là luân-lý, triết-lý, văn-chương, cứ theo một thứ-tự rõ-ràng; đó là một luận-đề có thể giúp cho sự khảo-cứu về Việt-văn lịch-sử, nhất là về những cuốn văn vô danh. Tôi không dám chắc chỗ sở-kiến đã là đúng, cho nên muốn đem ra để chất-chính cùng các bậc đại-phương vậy.
c) Cách đặt câu.- Xét về phần hình-thức thì trong cuốn văn này chữ thứ nhì câu lục có mấy chỗ dùng tiếng trắc như những câu :
Trát thảo cho dấu chữ y
Được kiện Cóc trở ra về.
Lối này là một lối văn cũ, cũng như ở trong Trinh thử, tôi đã có nói rõ.
Xét về phần văn-lý, thì thật là thuần-phác và trang nhã. Nay xin trích ra mấy đoạn sau này:
Đoạn Trê mắng Cóc :
Cóc kia cả quyết gan liều,
Bọn ngươi coi đã mỹ-miều lắm thay !
Một ngày lạ giống chúng bay,
Nghề bôi vôi vẫn nồng thay chẳng chừa !
Thật là tả rỏ cái khẩu-khí ương-ngạnh ở chốn dân-gian.
Đoạn Cóc mắng lại :
"Ta đây dẫu có hèn ngu,
Nhà ta cũng có cơ-đồ đỉnh-đang.
Ra vào gác tía nhà vàng,
Cõi bờ mặc sức nghênh-ngang chơi bời.
Nghiến răng chuyển bốn phương trời,
Ai ai là chẳng rụng-rời sợ kinh.
Tuồng gì giống cá hôi tanh,
May ra được một môi canh ra gì !"
Thật là tỏ rõ cái khẩu-khí khoe-khoang của bọn hợm thân thế.
Đoạn lệ-dịch phát sai :
Lệ rằng: "Quan pháp như lôi,
Chỉ đâu dánh đấy chẳng đâu là lành.
Trê kia là đứa gian-manh,
Chúng người họp đảng đồng tình nhất môn.
Đây mà cứ phép việc quan,
Thì bây thịt nát, xương tan chẳng lành."
Thật là tả rõ cái giọng hống-hách mè-nheo của bọn công-sai.
Đoạn Triều-đẩu bảo Trê :
Có tên Lý Ngạnh thôn ngoài,
Cũng trong thủ-hạ tôi đòi ta đây,
Vốn người độc-ác xưa nay,
Cho đi giúp chúng, việc này phải xong.
Thật là tả rõ cái giọng hách-dịch của bọn cường-hào.
Đoạn nha-lại khán-nghiệm :
Nha rằng : Sự chẳng hồ-nghi,
Đầu đuôi hình tượng giống Trê đó rồi.
Thật là tả rõ sự hàm-hồ khai-báo rất khôn-khéo ở trong việc quan.
Đoạn Ếch bảo Cóc :
Nghề tay thầy kiện trứ danh,
Có chàng Nhái-bén thực anh bợm già.
Đơn-từ mẹo-mực vào ra,
Bàn tay tráo-trở coi đà ngon không,
Thật là tả hết cái hình-dáng anh thầy cò.
Xét ra giọng văn lẫn giọng trào-hước, uyển-chuyển minh-bạch, thấu-lý, nhập-tình, có đủ cả phần văn và phần chất, nhưng phần chất nhiều hơn phần văn, có thể coi là một áng cổ văn có giá-trị cũng như cuốn Trinh thử ở cuối đời Trần vậy.
4- Tâm-lý trong truyện

Cuốn văn này đến nay vẫn liệt vào trong những cuốn văn vô danh, vì chưa tìm được tên của tác-giả. Cụ Bùi Tôn-am (Huy-bích) có bàn về cuốn văn này, cho là do một vị gia-khách ở nhà đức Liễu-dương đời Trần mà ra, ám-chỉ vào việc vua Thái-tông cướp chị dâu trong khi có mang, lấy đứa con anh còn ở trong bụng mẹ làm con mình. Cụ lấy bốn chữ "đoạt nhân thủ tử" làm định án. Nếu như thuyết trên này mà xét ở trong cuốn văn, thì ta thấy có nhiều chỗ ám-hợp, vì Trê tuy nuôi nòng-nọc nhưng nòng-nọc bao giờ cũng vẫn là con của cóc. Cho nên trong truyện có những câu này :
Lời Nhái-bén bảo Cóc :
Tuy cùng một kiếp phù-sinh,
Giống nào giống ấy tranh-giành làm chi.
Lời kết-luận ở cuối :
Ngẫm xem thế sự nực cười,
Cũng là dở một trò chơi đấy mà.
Thuyết trên này không phải là không có sở-kiến . Song ý tôi muốn hãy để thuyết ấy làm một điều khuyết-nghi, sau này nếu có đủ tài liệu, ta sẽ bàn lại.
Nay tôi chỉ xin xét về những chỗ ngụ-ý ở trong cuốn văn mà phân-giải một cách sơ-lược như sau này :
Cả cuốn văn lấy Cóc làm vai chính, Trê làm vai phó, rồi đem bọn Mè, Nheo, Trắm, Chép, Ếch, Chẫu, Ễnh-ương v. v...mở ra một rạp hí-trường. Tấn tuồng là tấn đi kiện, trong có một nha môn, có thông Chiên, đề Tôm, lại có những tay thầy cung, thày cò, sành nghề : Triều-đẩu, Lý Ngạnh, Nhái-bén. Cái kiện lại rất là khó xử, bên nguyên mất con ở trên cạn, bên bị cướp con lại ở dưới nước, làm cho quan khó lòng tra-cứu. Quan xét đơn Cóc, cũng phải cho là "huyền " và các nha-lại đến khi thấy nòng-nọc hóa ra Cóc, cũng phải than rằng: "Chẳng qua con tạo đảo-điên, Sinh sinh hóa hóa hiện truyền chi đây." Trong tấn tuồng tả hết vẻ hài-hước nhất là gặp những chỗ nha-lại nhũng-nhiễu, lại tả ra một cách bán ẩn, bán hiện, thật là tài-tình, làm cho ta nhớ đến câu " Có tiền việc ấy mà xong nhỉ " của cụ Yên-đổ, mà tránh sao được những nỗi ngậm-ngùi. Song ở trong cuốn này có một lẽ làm cho lòng ta được phấn-khởi đôi chút, là Trê tuy mất tiền mà việc ấy vẫn không xong. Nhân thế, tôi nhận thấy cuốn văn này muốn ngụ ý về ba điều như sau đây :
1) Dân sở-dĩ phải chịu đủ đường khổ-cực, phần nhiều vì ngu, ngu mới hay phạm vào tội-lỗi, cho nên mới có câu :
Trê kia là đứa ngu-si,
Chẳng qua tham-dại biết gì nông sâu,
Vậy người trên nên thương đến nỗi tối-tăm của bọn kiềm-lê, mà tìm cách dìu-dắt dạy-dỗ cho họ đi ra con đường sáng-sủa, chớ nên thấy nhiều sự điêu-toa ương-ngạnh mà đổ lỗi cho dân cả.
2) Sự tham-nhũng của bọn nha-lại và lệ-dịch. Sự này có lẽ là một tập-quán đã lâu. Và công nhiên không kiêng-kỵ gì trong lúc thừa-hành công-sự.
Cho nên có câu :
Song bên lý có bên tình.
Liệu sao các việc thỏa tình người ta.
Lại có câu :
Chẳng qua hối lộ đã nhiều.
Cho nên mới nói mè nheo những lời.
..................................................
3) Sự quan-hệ trong khi xử kiện, phần thì tình-lý phức-tạp, phần thì thường bị kẻ tả hữu ủng-tế, ngay những vị quan rất công-minh liêm-chính, mà hơi sơ ý một chút, cũng bị sai-lầm luôn. Xem như trong truyện này, nếu đàn nòng-nọc còn ở dưới nước, Cóc còn bị oan mãi, thì biết những trường-hợp tương-tự như thế còn biết bao nhiêu là án tình,Cho nên ngay từ đời trước đã phải đặt ra bộ Tẩy oan lục, đủ biết rằng sự thận-trọng và tinh-tế ở trong việc xử kiện là rất cần-thiết vậy.
Tác-giả muốn mượn một tập văn ngụ-ngôn, đem ba điều này để cảnh-tỉnh những bậc học-thức trong nước, bình-nhật nên lưu-tâm đến dân-tình lợi bệnh, Đến khi có quyền-bính trong tay, nên hết lòng giúp nước, cốt làm thế nào cho lại trị dân an . Đó là cái tinh-thần chân-chính trong nền cổ học, hàm-súc ở cuốn văn này biết bao nhiêu là ý-tứ, ta không nên cho là một truyện mua vui, mà sao-nhãng không thể nhận kỹ vậy.
Truyện Trê Cóc còn nhiều bản bằng chữ nôm, bằng chữ quốc-ngữ.Nhưng khốn nỗi, bản nôm tuy hình như là một tái-bản của bản in từ đời Tự-đức, nhưng có một vài chữ vì hình gần nhau nên thợ khắc lầm . Các bản in bằng quốc-ngữ, thì toàn là của các nhà buôn xuất-bản để trục lợi, sai-lầm lẫn-lộn, có khi lầm cả câu, sai hàng đoạn, đối với nguyên-văn không còn có một giá-trị gì.. Vì những lẽ ấy, nên chúng tôi không thể lấy một bản in nào làm bản đúng, hễ có câu nào,chữ nào không giống các bản khác thì phải đối hiệu mà chua rõ-ràng .Bài văn in đây là bài chúng tôi chép theo bản nôm . Chúng tôi lấy đấy làm gốc, rồi xem các bản chữ nôm và quốc ngữ khác, hễ có chỗ nào khác thì chua ở cuối trang :" có bản chép ",v.v...
BUI ƯU-THIEN

Truyện trê cóc

Truyện đời có cổ có kim,
Ngẫm trong vật-lý mà xem cũng kỳ.
Những tuồng loài vật biết gì,
Cũng còn sự lý tranh thi khéo là.

Nhớ xưa Trê, Cóc đôi nhà,
Vì tình nên phải sinh ra oán-thù.
Cóc quen vui thú bờ hồ,
Khi ra đài-các, khi vô cung-đình.
Tới khi thai sản thành hình,
Xuống ao Trê đẻ đem mình thoát xong.
Nhìn xem Cóc những mừng lòng,
Trở về ngồi chốn nghiêm-phòng nghỉ-ngơi.

Chàng Trê đâu mới tới nơi,
Thấy đàn nòng-nọc nhảy ngoi rầm-rầm.
Nhìn xem dạ những mừng thầm,
Giống Trê như lột chẳng lầm vẻ chi.
Bắt về yêu-dấu bù-trì,
Con nuôi cũng chẳng khác gì con sinh.

Hay đâu Cóc cũng vô tình,
Nhớ ngày đầy cữ ra rình thăm con.
Tới nơi chờ đợi nỉ-non,
Bờ trơ, cõi vắng, nước còn tăm không.
Âm-thầm nghĩ cũng giận lòng,
Vội-vàng nhảy xuống bên trong dạo tìm,
Bọt-bèo lầm nước tối-tăm, ?
Động tin, Trê mới nổi lên hỏi dò.
Lắng ra thấy cóc bên bờ,
Trê liền quát mắng, tri-hô vang rầm:
"Cóc kia! đâu đó tối-tăm ?
Dạ gian-phi đạo, tắc dâm chẳng lành."
Cóc rằng: "Ai kẻ gian-manh,
Gây ra những sự sinh tình gớm-ghê.
Vì con nên phải sớm khuya,
Không dưng ai có đến chi chốn này !"
Nghe lời Trê tức giận thay,
Vểnh râu, mắng Cóc chua-cay lắm điều :
"Cóc kia cả quyết gan liều,
Bọn người coi đã mỹ-miều lắm thay.
Một ngày lạ giống chúng bay,
Nghề bôi vôi vẫn nồng thay chẳng chừa.
Một tội mất, mười tội ngờ,
Biết đâu mà khéo tri-hô hỏi dồn.
Thôi đừng đua dạy tranh khôn,
Trở về ngồi tốt gậm giường cho xong !"
Cóc ta dương mắt trừng-trừng,
Rằng:" Khôn, ngươi cũng ở trong ao-tù.
Ta đây dẫu có hèn ngu,
Nhà ta cũng có cơ-đồ đỉnh-đang.
Ra vào gác tía nhà vàng,
Cõi bờ mặc sức nghênh-ngang chơi-bời.
Nghiến răng chuyển bốn phương trời,
Ai ai là chẳng rụng rời sợ kinh.
Tuồng gì giống cá hôi-tanh,
May chăng được một môi canh ra gì.

Cầm lòng Cóc trở ra về,
Vợ chồng bàn định sớm khuya ngại-ngùng,
Rằng: "Con đương độ ấu-trùng,
Xa xôi non nước lạ-lùng biết sao.
Khuyên chàng chớ nghĩ thấp cao,
Công bao cũng chịu, của bao cũng đành."
Cóc rằng: "Sao khéo lo quanh,
Can chi chịu phí, xem tình làm sao.
Đàn bà nông-nổi khác nào,
Biết đâu những chuyện mưu cao mà bàn.
Trên kia đã có lòng tham,
Được thua quyết kiện một đơn xem mà.
Kêu oan đến cửa quan-nha,
Làm đơn mà khống minh tra cho tường."
Đơn rằng:

Trung-đình phủ, Tường-miếu huyện, Bích-gia xã, Thạch-cốc thôn, Trần văn Cốc, khấu bẩm vì khổ-ức sự, một chút tình duyên, vì có đàn con, vốn xưa ở cạn, tới khi có nghén, sinh ở ao Trê. Trai gái đề-huề, một đàn nòng-nọc. Đương cơn sinh-dục, hiện có tứ bề : danh Chép, danh mè, danh Măng, danh Trắm ; cậy người đỡ tắm, mụ Diếc, mụ Rô, mượn nguời thăm dò anh Lươn, anh Trấu..Tìm nơi nương-náu, Cóc mới về quê, vì nỗi thê-nhi, Cóc ra thăm viếng. Bốn bề im tiếng, chẳng thấy một ai, Cóc hỏi khúc-nhôi, Trê liền thét mắng, sinh tình ngạnh ác, cố dạ gian-tham. Đạo-nghĩa cha con, khôn đường nhẫn-nhục. Vi thử cụ đơn, khấu bẩm đường quan, soi-xét lòng đơn, xin người cứu-vấn. Nhờ ơn son phấn, yên phận thê-nhi, vạn vạn bái.
Kim khấu bẩm

Phủ-quan nghe tỏ lòng đơn,
Truyền đòi nha-lại các phiên vô hầu.
Xem đơn danh Cóc gót đầu,
Đoạt nhân thủ tử nhẽ đâu làm vầy.
Thực hư tình-ý chưa hay,
Cứ trong đơn khất cũng ngầy lắm thôi.
Truyền cho thảo trát vô đòi,
Mấy danh chứng-tá giải hồi nghiêm tra.
Các thầy vâng lệnh trở ra,
Đòi tiền thông-lệ bản-nha tức thì.
Trát thảo cho dấu chữ y,
Truyền cho lệ-dịch tức thì phát sai.
Trát rằng:

Hải-giang phủ, tri-phủ Đàm, vi phát lệ-binh nhất danh y phải tùy hành, cứ hương lý-dịch, thân dẫn danh Trê, chứng-tá các bề, truyền đòi cho hết, cùng người bàng tiếp, danh Chép, danh Mè, danh Măng, danh Trắm, cụ thử nhất đoàn, duyên cố nguyên đơn, danh Trần văn Cóc, thân tình ức-khổ, vi thử đẳng danh, đồng-đảng gian-manh, đoạt nhân thủ tử, vi thử hợp trát, giang giải hồi trình, lập tức dẫn thôi, y như trát nội, hợp trát.
Lệ-binh vâng trát thôi đòi,
Bộ-hành mới kéo về nơi Thanh-trì.
Truyền đòi lý-dịch tức thì,
Dẫn thôi thủ-phạm danh Trê ra hầu.
Nghe tin chứng-tá đâu đâu,
Sửa-sang chè rượu cùng nhau khuyên mời.
Lệ rằng: "Quan-pháp như lôi,
Chỉ đâu đánh đấy chẳng đâu là lành.
Trê kia là đứa gian-manh,
Chúng ngươi họp đảng đồng tình nhất môn.
Đây mà cứ phép việc quan,
Thời bay thịt nát xương tan chẳng lành.
Song bên lý có bên tình,
Liệu sao các việc thỏa tình người ta.
Kẻo khi quan-lại còn xa,
Đây mà nổi giận lôi ra kéo vào."
Chàng Trê ngóc cổ liền kêu,
"Dân đen có biết chi điều gian-ngoan.
Vì ai nên phải tiếng ai,
Dám xin mấy cậu liệu đường giúp cho.
Chữ rằng: "Nhất nhật tại tù ,"
Hết bao nhiêu cũng xin lo dám nề.
Còn như danh Chép, danh Mè,
Cũng trong luân-lý một bề với tôi.
Sửa-sang lễ-vật lên hầu,
Có tôi đã đứng là đầu thời xong."

Lệ nghe lời nói êm lòng,
Bèn đưa nhau đến cửa công tạ trình.
Lệ vào lạy trước công-đình,
Trát sai đã bắt đẳng-danh hồi-trình.
Quan liền chỉ phán phân-minh :
"Trê kia sao dám gian-manh làm vầy ?
Nguyên đơn danh Cóc ngồi đây,
Đoạt nhân thủ tử việc này có không ?"
Trê vào lạy trước vừa xong,
Cất đầu kể hết sự lòng xa xôi:
"Sự này tại chú Cóc tôi,
Dạ gian vô cớ xuống ngồi bên ao.
Bấy giờ tôi có kêu rao,
Hỏa-quang kiến diện qua rào nhảy ra.
Sợ rằng: ngỏ tiếng-tăm ra,
Vậy nên trước phải qùy thưa đỡ đòn.
Ví dù Cóc lại có con,
Lẽ đâu để cách nước non sao đành.
Đầu đen là giống phù-sinh,
Dám xin soi-xét ra tình kẻo oan."
Quan rằng: "Bây khéo gian-ngoan.
Truyền đòi chứng-tá tiếp bàng hỏi qua.
Mèo, Nheo, Trắm, Chép nhảy ra,
Khấu đầu lạy trước quan-nha diện-trình :
"Chúng tôi thật kẻ vô tình,
Xưa nay vẫn thực hiền-lành biết chi.
Mặc ai vùng-vẫy giang-khê,
Biết thân tránh khỏi lưới nghề là xong.
Biết đâu Trê, Cóc sự lòng,
Buộc cho đôi chữ phù-đồng khổ thay !
Đèn trời soi-xét gian-ngay,
Lẽ đâu ao cá vạ lây cháy thành."
Cóc vào bẩm trước công-đình :
"Chẳng qua các chúng đồng tình mưu gian.
Người thân-thích kẻ lân-bang,
Cùng trong vây-cánh một đoàn nó thôi.
Vả trong đất nước khác vời,
Cóc khô ở chốn quê người biết sao.
Ngửa trông lạy đứa quan cao,
Cứu đàn con nhỏ phiêu-lưu kẻo mà."
Quan truyền: "Cho Cóc lui ra,
Đem trê giam đó hậu tra vội gì ."
Lệ-binh vâng lệnh tức thì,
Đem Trê vào trại liền mi chẳng chầy.
Canh giờ nghiêm-cấm khổ thay !,
Mười người nhắm một, đều tay lấy tiền.
Quan cứ lệnh, lính cứ truyền,
Đã ngày cổ buộc, lại đêm chân cùm.
Giam tra thịt nát xương tan,
Đánh cho mấy chục, chập đòn roi đôi.
Vợ chồng Trê những ngậm-ngùi,
Ra vào phí tổn hết bao cũng đành.
Có công lặn suối trèo ghềnh,
Tìm người lý-sự hỏi tình sâu nông.
Xa nghe Triều-Đẩu anh hùng,
Đưa tin hoàng-tước hỏi cùng phải chăng.
Đầu đuôi mấy khúc thưa rằng:
"Thực tôi là phận tảo-tần chàng Trê.
Nay đơn chàng Cóc tâu quì,
Vậy nên Trê phải giam mi tại tù.
Đàn-bà ngu-dại vụng lo,
Đội ơn quan bác liệu cho phận nhờ."
Kình rằng: "Chẳng ngại việc chi,
Đây ta nào phải lụy gì đến ai.
Có tên Lý Ngạnh thôn ngoài,
Cũng trong thủ-hạ tôi-đòi ta đây.
Vốn người độc-ác xưa nay,
Cho đi giúp chúng việc này hẳn xong."
Trê nghe thấy nói mừng lòng,
Liền qùy lạy Ngạnh kể thông mọi lời.
Sửa sang đồ vật thảnh-thơi,
Tôm-he, cá-mực đủ mùi trân-cam.
Ngạnh rằng: "Quan sự dã am,
Những phường cáo giả oai hầm ghê thay.
Việc quan muốn xử cho xong,
Thời trong lại-bộ có thầy thông Chiên.
Muốn cho trong ấm ngoài êm,
Phải đưa lễ tốt các phiên mới dành."
Ngạnh vào tư-thất bẩm-trình,
Trê ra lạy trước công-đình tâu thân:
"Gọi là lễ mọn kính dâng,
Dám xin soi-xét phận dân ngu-hèn.
Chàng Trê giam-chấp mấy phen,
Cũng vì điên-đảo làm thiên án từ.
Lòng ngay chẳng dám mưu-mô,
Lưới Thang rộng mở ơn nhờ xiết bao."
Quan rằng: "Kêu vậy biết sao,
Đây ta cũng chẳng xuy-mao cầu-tì.
Cứ trong tình-lý mà suy,
Thời như đơn Cóc có khi cũng huyền.
Cho đồng đối-tụng hai bên,
Có bên bị, có bên nguyên mới tường."
Cóc ngồi chực sẵn bên tường,
Nghe lời quan phán vội-vàng nhảy ra :
"Trê kia chớ có huyên-hoa,
Hùm dầu có cánh ta đà chẳng ghê.
Quả tình nào có hồ-nghi,
Ra điều bán dạ lâm-trì khó coi.
Phù-sinh mấy kiếp ở đời,
Làm cho rắn cắn được voi còn chầy.
Chỉ nghề dạy khỉ leo cây,
Xui nguyên dục bị, chỉ hay bày trò.
Ai ngờ xã thử thành hồ,
Chỉ điều cậy thế làm cho hại người.
Biết rằng hươu chết tay ai,
Mỏ chim, nanh chuột tranh hơi còn nhiều."
Quan rằng: "Bây chớ rối điều,
Việc quan chẳng lọ nhiều kêu mới là.
Lệ đâu đòi mấy thầy nha,
Cho đi nghiệm-thực hậu tra mới tường.
Trê kia quả có tính gian,
Cứ trong luật-lệ y đơn mà làm."

Các thầy vâng lệnh lên đường,
Theo chân thầy-tớ một đoàn thong-dong.
Kéo về đến chốn ao trong,
Cho đòi tổng-tiếp điều cùng khám thăm.
Thấy đàn nòng-nọc lăm-xăm,
Vẫy-vùng mặt nước đen rầm như Trê.
Nha rằng: "Sự chẳng hồ-nghi,
Đầu đuôi hình-tượng giống Trê đó rồi."
Khám tường biên thực chẳng sai,
Sự tình nha-lại tức hồi trình qua:
"Ngửa trông đôi đức cao xa,
Vâng sai án nghiệm minh tra tỏ tường.
Trê kia quả có tình oan,
Hiện có tổng-tiếp ký đơn về trình."
Đơn rằng:

Hải-giang phủ, Đường-hào huyện, Thái-cốc xã, Hùng văn Trê trình về phúc bẩm sự. Mấy khúc đầu đuôi, hiện có mấy người, thường đi thường lại, ở chốn ao sen, bất ý đương đêm, Cóc vào xuyên-tạc, Trê liền phát-giác, Cóc nhảy qua rào, cậy thế hùng-hào, vậy nên nại chứng. Thay trời trị chúng, tiếng trống nghìn quân, nhờ lượng đường quan, cho về khám xét, đầu-đuôi tình-tiết, như đã biên tường, vị thử cụ đơn, trông ơn khám xét, minh tra các tiết, tỉ-đắc thân oan, vạn vạn bái, kim khấu bẩm.
Quan truyền bắt Cóc ra tra:
"Sao bây kiện sai-ngoa làm vầy ?
Nay đơn nha khám về đây,
Trê kia là đứa tình ngay có gì !"
Cóc ra lạy trước sân quỳ,
Bẩm rằng: "Lại dấu cho Trê lắm điều.
Chẳng qua hối lộ đã nhiều,
Vậy nên mới nói mè-nheo những lời."
Bản-nha tức-giận mọi người,
Bẩm xin tội Cóc ra ngoài trại canh.
Truyền cho thẩm xét phân-minh,
Ký giam ở đó kẻo tình còn oan.

Cóc ngồi dài thở ngắn than,
Những là đứt ruột, căm gan cho đời.
Biết chăng có một ông trời,
Nghiến răng có thấu xin soi đến cùng.
Ai làm oan thác sự lòng,
Thì xin tiếng sấm cửu-trùng nổi lên.
Cóc ngồi trằn-trọc thâu đêm,
Vợ chồng bàn định nỗi-niềm trước sau.
"Phải tìm thầy-thợ cho mau,
Để cho thiếp được trước sau rõ mười.
Đua nhau cái trí mà thôi,
Chẳng mừng chi được, chẳng ngùi chi thua.
Thiếp xin đi lại toan lo,
Làm cho trả được oán thù mới thôi."
Cóc về dạo khắp các nơi,
Qua miền Chẫu-chuộc, tới miền Ễnh-ương.
Thôi lặn suối lại trèo nương,
Giếng sâu bụi-bặm lòng càng ngẩn-ngơ.
Vô tình đương lúc mây mưa,
May sao thấy Ếch ngẩn-ngơ cõi ngoài.
Ếch đương quen thú ngồi chơi,
Nhác trông thấy Cóc sắp rời chân ra.
Rằng: "Đâu mà đến đây ta ?
Cớ sao thân-thể coi mà kém xuân.
Hay là có việc chi chăng ?
Đầu đuôi ngỏ thực xin đừng giấu nhau.
Cóc rằng: "Có việc chi đâu,
Vì chồng con phải lo âu chưa đành.
Trê kia là đứa gian-manh,
Bắt con mà lại sinh tình sai ngoa.
Làm đơn đút-lót quan-nha,
Vậy nên Cóc phải giam-tra thế này.
Cố công lặn suối tới đây,
Nhờ chàng liệu giúp việc này họa xong."
Ếch rằng: "Đồng trắng, nước trong,
Tôi đây tiếng cả nhà không có gì.
Thấy lời chị nói nằn-nì,
May ra giúp được việc chi cũng đành.
Nghề tay thầy kiện trứ danh,
Có chàng Nhái-bén thực anh bợm già.
Đơn-từ, mẹo-mực vào ra,
Bàn tay tráo-trở coi đà ngon không.
Muốn cho các việc được xong,
Phải tìm cho đến hỏi cùng sự-duyên.
Cóc nghe Ếch nói căn-nguyên,
Trở về dạo khắp các miền hỏi thăm.
Nước non cây cối âm-thầm,
Một mình Cóc lại xăm-xăm một mình.
Hay đâu cảnh thú hữu tình,
Lùi chân bóng mát, nương mình cõi râm,
Gió mưa ngọn cỏ dâm dâm,
Nhác trông thấy Bén đương nằm nghỉ-ngơi.
Chào rằng: "Chị Cóc đến chơi !
Việc gì mà phải tìm-tòi đến ta ?
Dặm nghìn non nước thẳm xa,
Cớ sao mà khéo lân-la biết đường ."
Cóc rằng: "Muôn đội ơn chàng ,
Vì tình nên phải đa mang vớì tình.
Nói ra lắm sự bất bình,
Vì Trê nên phải đem mình đến anh.
Xiết bao kể nỗi ức tình,
Nhịn đi chẳng được, tức mình lắm thôi.
Cố lòng lấy thịt đè người,
Đơn-từ điên-đảo mấy hồi khổ thay.
Quan tham, lại cũng chẳng ngay,
Vậy nên bắt Cóc tội đày bấy lâu.
Nghĩ tình càng thảm, càng sầu,
Biết ai là kẻ nông-sâu mà bàn.
Vậy nên bao quản đường trường,
Trước vì biết Ếch sau tường tôn-nhân.
Dù trong lẽ dại đường khôn,
Dám xin chỉ-giáo tôi con được nhờ."
Bén rằng: "Ngán chuyện đàn-bà,
Làm gì việc ấy khéo mà nói quanh.
Tuy cùng một kiếp phù-sinh,
Giống nào giống ấy, tranh-giành làm chi ?
Trê kia là đứa ngu-si,
Chẳng qua tham-dại nghĩ gì nông-sâu.
Thôi đừng kiện-cáo chi nhau,
Con đương dưới nước, dễ hầu làm chi.
Để cho Trê nó bù-trì,
Đứt đuôi nó lại tìm về là hơn.
Muốn cho êm-ái đôi bên,
Thời đem trình phủ mà xin Cóc về.
Nhược bằng có dạ tranh thi,
Lại làm đơn phục cho Trê khó gì ?"
Nghe lời Cóc cũng nằn-nì :
"Làm cho bõ ghét cho Trê mới đành.
Kẻo Trê nó cũng cậy mình."
Nghe thôi, vợ Cóc tạ trình ra đi.
Trở về cửa phủ tức thì,
Dặn chồng sau trước mọi bề đinh-ninh.
Lại về chốn cũ thăm tình,
Quả như Bén nói rành-rành chẳng sai.
Cười cười nói nói tả-tơi,
Sửa-sang lễ-vật tới nơi công-đường.
Cóc vào lễ tước, quỳ đơn,
Theo sau một lũ Cóc con sang trình.
Đơn rằng:

Nguyên danh Cóc trình vi khất-thôi cứu sự, vì Trê gian khiếu, nên Cóc thân oan, sự đã tỏ-tường, vậy nên tục khống. Trời sinh có giống, ai dám trang càn, Trê quả lòng gian, tìm đường giam-chấp; mấy phen thăm bắt, tin-tức vắng không. Nay đã khỏi vòng, trở về đất cũ, trần tình cụ thử, đồng đồ nhũng-tệ, Cóc tôi yếu vế, vậy phải chịu im, vị thử phục qui, ơn trên soi-xét. Giãi-bày các tiết, nhờ lượng cao-xa, dân được điều-hòa, khỏi điều oan-khốc.
|
Chú thích:
tranh thi: tranh nhau thi-thố.

Vì tình: Có bản chép rằng : ức tình

Trở về: Có bản chép rằng : thong-dong.

nghiêm-phòng: buồng kín, chỗ thâm nghiêm.

Âm-thầm: có bản chép: lâu lâu.

Lắng ra: nghe ra, nhận ra.

Dạ gian-phi đạo, tắc dâm: Chữ trong luật : Dạ gian vô cố nhập nhân gia, phi đạo tắc dâm : ban đêm vô cớ vào nhà người ta, nếu không phải là đi ăn trộm thì là tà dâm.

cả quyết: có bản chép: sao dám.

Bọn người coi đã mỹ-miều lắm thay: có bản chép: đêm hôm đường-đột dập-dìu chi đây.

Nghề bôi vôi vẫn nồng thay chẳng chừa: Truyện cổ-tích : Cóc có lần ra Vũ-môn thi với các loài cá, song vì hình-dáng xấu-xí, quan trường bôi vôi, đánh giấu vào đầu, rồi đuổi về ;vì thế ta có câu : may ra như rồng gặp vận, chẳng may ra như cóc bôi vôi.
Một tội mất, mười tội ngờ: có bản chép : Chốn nghiêm chớ có lập lờ.

ngồi tốt: ngồi yên,

đỉnh-đang: vạc và sanh, nói nhà phú-quí.

Tuồng gì: có bản chép : huống mầy.

ấu-trùng: trẻ thơ

Công bao cũng chịu, của bao cũng đành: có bản chép : chuộc thì chịu chuộc, hết bao cũng đành.

Can chi chịu phí, xem tình làm sao: có bản chép : rằng chẳng chuộc nữ, xem tình làm sao.

Làm đơn mà khống: có bản chép : làm đơn khất lĩnh.

Trung-đình: giữa sân.

Tường-miếu: tường ở đền, ở miếu, có lẽ viết là miếu-tường thì đúng hơn.
Bích-gia: nhà ở bức vách.

Thạch-cốc: hang đá.

mượn nguời thăm dò: có bản chép : sở tại hẳn-hoi.

Trấu: chạch trấu

khúc-nhôi: đầu đuôi.

các phiên: các nha-lại.

Đoạt nhân thủ tử: cướp và bắt lấy con người

tiền thông-lệ: tiền lệ-phí trong khi thừa hành việc quan

Hải-giang: bể và sông.

lệ-binh: lính-lệ.
thân dẫn: tiếng việc quan : thân hành dẫn đến.

bàng tiếp: lân-bang, ở gần chung quanh.

hợp trát: tiếng việc quan : theo đúng luật mà phát trát,

giang giải: đóng gông mà giải về.

dẫn thôi: thôi : đòi ra, bắt phải ra.

y như trát nội: tiếng việc quan : theo đúng như lời trong trát.

thôi: đòi ra.

Thanh-trì: ao trong.

Quan-pháp như lôi: phép quan như sấm.

lôi ra kéo vào: có bản chép : trúc la cũng nhiều.
Dân đen: bởi chữ lê dân dịch ra, cũng như nói dân ngu,

Nhất nhật tại tù: một ngày ở tù là khổ.

Sửa-sang lễ-vật lên hầu: có bản chép : có nơi sở nại, sở cầu.

Lệ nghe lời nói êm lòng: có bản chép : phận riêng lệ yểm tâm rồi.

Bèn đưa nhau đến cửa công tạ trình: có bản chép : cho vào quan kể khúc-nhôi sự tình.

đẳng-danh: tiếng việc quan : mọi tên.

Dạ gian: trong khoảng đêm.

Hỏa-quang kiến diện: tiếng việc quan : nhân lửa sáng mà nhận rõ mặt.

đỡ đòn: che lấp lỗi mình.

Đầu đen là giống phù-sinh: Có bản chép : đầu đen tốt giống rành rành.
gian-ngoan: Ngoan : ương-ngạnh, không nên hiểu lầm với tiếng ngoan như ngoan-ngoãn, khôn ngoan.

Biết thân tránh khỏi lưới nghề là xong: có bản chép : lưới gian không dám đông-hề là xong.

phù-đồng: cùng một đảng gian dối.

vạ lây cháy thành: bởi câu thành môn thất hỏa, hoạ cập trì ngư, : cháy ở cửa thành, vạ lây đến cá ở dưới ao.

phiêu-lưu: trôi-giạt.

hậu tra: đợi để tra xét.

mi: giam lại.

Canh giờ nghiêm-cấm khổ thay: nhiều bản không có câu này.

Mười người nhắm một, đều tay lấy tiền: có bản chép : một người là một ngón tay là tiền.

Đánh cho mấy chục, chập đòn roi đôi: có bản chép : đánh rồi tiền lệ canh-giam lại đòi.
Triều-Đẩu: một loài cá giống cá sộp, cá quả, ban đêm hay lội lên chầu sao Bắc-đẩu, cho nên gọi là Triều-đẩu.

hoàng-tước: chim sẻ vàng, lấy điển : hoàng tước hàm thư : chim sẻ vàng ngậm thư; ở đây hiểu nghĩa là người đem thư, đem tin.

tảo-tần: hai thứ rau mọc tự nhiên ở ngoài đồng. Hai thứ rau này là công việc của người nội trợ siêng năng tần tiện. Ở đây hiểu nghĩa là người vợ cả.

Kình: tên một loài cá to ở bể, nhưng ở đây, có lẽ là Đẩu rằng.

kể thông: kể suốt.

am: thuộc, thảo.

Những phường: có bản chép : những phường cáo giả ngang-tàng ghê thay.

cáo giả oai hầm: bởi câu hồ gỉa hổ oai , cáo đội lốt cọp để dọa các loài thú, nói ví các nha dịch cậy thế quan để bắt nạt dân.

lại-bộ: lại phòng, buồng giấy việc quan.

các phiên: các phần việc.
thân: tỏ bày.

Lưới Thang: lưới vua Thành Thang, chỉ chăng có một mặt mà mở ra ba mặt, nói ví : luật-pháp nhân-từ.

xuy-mao cầu-tì: thổ lông tìm vết, ý nói : bẻ-bắt, khe-khắt.

huyền: không được minh-bạch.

bán dạ lâm-trì: nửa đêm đến ao, nghĩa là hàm hồ không rõ.

xã thử thành hồ: chuột ở nền xã (chỗ tế trời đất) cáo ở bờ thành, không ai dám đào tổ mà bắt, vì sợ làm lở nền xã hay là lở bờ thành, nói ví : những kẻ cậy thần thế.

hươu chết tay ai: bởi câu : lộc tử thuỳ thủ : hươu chết về tay người nào, nghĩa là : chưa biết ai được ai thua,

Mỏ chim, nanh chuột: mỏ chim bởi chữ tước gióc : mỏ chim sẻ; nanh chuột : bởi chữ thử-nha , hai bài ca ở trong Kinh Thi, nói vì tính hiếu tụng ở chốn thôn quê như chim sẻ khoét nóc nhà, chuột hay gậm.

rối điều: nói nhiều lời.

tổng-tiếp: lý-dịch ở vùng tiếp giáp.

án nghiệm: nghiệm xét đủ bằng-chứng.

Đường-hào: cái hào ở bên bờ ao,

Thái-cốc: cái hang to.

phúc bẩm: bẩm lại,

xuyên-tạc: nhĩa đen xuyên là khoét ra, tạc là đào ra, đục ra, nghĩa bóng là bày đặt ra. làm cho mất hẳn sự thực,

Thay trời trị chúng, tiếng trống nghìn quân: hai câu này nói quyền thế của quan to lắm.

tỉ-đắc: tiếng việc quan : khiến được, cho được.

Lại: nha lại.

Phải tìm thầy-thợ cho mau: có bản chép : tờ bồi ráo-riết chi nhau.

Để cho thiếp được trước sau rõ mười: có bản chép : Dám xin để thiếp mau mau mượn người.
Chẳng mừng chi được, chẳng ngùi chi thua: có bản chép : tốt ăn thì được, xấu mồi thì thua.

Đầu đuôi: Có bản chép : bà con,

Đồng trắng, nước trong: Có bản chép : biết chị có lòng,

Tôi đây tiếng cả nhà không có gì: có bản chép : tôi đây tiếng cả vốn không lụy gì,

Thấy lời chị nói nằn-nì: có bản chép: thấy nhau có lẽ chẳng vì.

xăm-xăm: có bản chép : băn khoăn,

dâm dâm: có bản chép : Đầm đầm.

Việc gì mà phải tìm-tòi đến ta: có bản chép : việc gì mà phải tìm tôi những là,

đày: đày-đọa khổ-sở.

nói quanh: có bản chép : chẳng tin,
đơn phục: đơn thưa lại,

tả-tơi: có bản chép : lả-lơi,

khất-thôi cứu: tiếng việc quan : xin xét cho ra,

giam-chấp: giam giữ đàn con,

trần tình cụ thử: tiếng việc quan : làm đơn này để trần tình,

Truyện trê cóc
Trình đơn trước mặt công-đình,
Phủ-quan nổi giận lôi-đình thét vang.
"Sự đâu có sự dị-thường,
Nha-môn sao dám tự đương làm vầy."
Truyền đòi nha-khám ra đây,
Giao cho Bang-biện việc này mới xong.
Bản-nha hiệp nghị một lòng,
Khấu đầu lại trước cửa công tạ tình.
Rằng: "Đem dấu trát tra minh,
Bắt Trê nhận thực tượng-hình mới biên.
Chẳng qua con tạo đảo điên,
Sinh-sinh hóa-hóa, hiện truyền chi đây.
Chúng tôi giữ việc lòng ngay,
Dám đâu gian-dối chuyện này cho đang."
Quan rằng việc ấy dở=dang,
Truyền Trê ra trước công-đương hỏi qua,
Roi đâu mấy chập đòn tra,
Gian-ngay thú thực thưa qua cho tường.
Dám đâu nhận mệnh làm thường,
Cố-nhiên kiếp đoạt đường đường như chơi.
Cứ trong lý-luật mà coi,
Lưu tam thiên lý tôi ngươi đã đành.
Bao nhiêu đồ vật sắm-sanh,
Truyền Trê phải chịu cho thanh mọi bề.
Cóc kia thôi chớ nằn-nì,
Được con là trọng, kêu chi thêm càng.
Trê kia thực có lòng tham,
Đã đem đày chốn xa đường thì thôi."
Quan trên chỉ phán mấy hồi,
Cóc vào trình lạy mấy lời bẩm qua :
"Ngửa trông đức cả cao xa,
Non công, bể đức kể đà xiết bao.
Đoái thương đến phận nhi-tào
Gọi là lễ mọn đem vào tạ ân."
Quan rằng: "Thôi chớ ân-cần,
Thế thời cũng đã có phần hậu thay.
Khéo đâu lễ-vật đặt bày,
Biết thôi trả lại cho bay đem về."
Tạ từ Cóc trở ra về,
Vợ-chồng mừng-rỡ đề-huề ngổn-ngang.
Bước ra khỏi chốn công-đường,
Thông Chiên dật lễ, Đề Tôm cướp tiền.
Ôm đầu vỗ vế ngả-nghiêng,
Kẻ đòi bầu rượu, người xin bao chè.
Được kiện Cóc trở ra về,
Họ-hàng náo-nức ngồi kề mừng-vui.
Chè sen rượu cúc thảnh-thơi,
Cóc ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ.
Vang-lừng trong hội mây-mưa,
Say-sưa mặc sức, xướng-ca thỏa lòng.
Mới hay duyên ngộ kỳ-phùng,
Anh-hùng tỏ mặt anh-hùng hẳn-hoi.

Ngẫm xem thế-sự nực cười,
Cũng là dở cái trò chơi đấy mà.
Vẽ-vời mấy tiếng ngâm-nga,
Tỏ tường sự lý để ra với đời.
=HET=

|
Chú thích:


tự đương: tự đảm-nhận lấy trách-nhiệm.

nha-khám: những nha-lại đã đi khán-nghiệm lần trước.

Bang-biện: một chức quan cũng như trợ-tá bây giờ.

Dám đâu nhận mệnh làm thường: Có bả chép: Chỉ quen những thói quật-cương.

đường đường: công-nhiên không sợ hãi gì.

Lưu tam thiên lý: đày ra ngoài ba ngàn dặm.

chỉ phán: truyền bảo,

đức: tiếng gọi tôn những người bề trên.

nhi-tào: đàn trẻ.

Thôi chớ ân-cần: Có bản chép : thôi biết tình dân.


Chè sen rượu cúc thảnh-thơi: Có bản chép : tiệc mừng chè rượu vui cười. 

Sunday, February 7, 2016

Đoạn Trường Tân Thanh (Phần 3 HẾT)

Sương gió dập vùi

V2061                           Cửa thuyền vừa cữ cuối xuân,
V2062                 Bóng hoa đầy đất, vẻ ngân ngang trời.
V2063                           Gió quang, mây tạnh thảnh thơi,
V2064                 Có người đàn việt lên chơi cửa Già.
V2065                           Giở đồ chuông khánh xem qua,
V2066                 Khen rằng: "Khéo giống của nhà Hoạn nương!"
V2067                           Giác Duyên thực ý lo lường,
V2068                 Ðêm khuya mới hỏi lại nàng trước sau.
V2069                           Nghĩ rằng khôn nỗi giấu mầu,
V2070                 Sự mình nàng mới gót đầu bày ngay:
V2071                           "Bây giờ sự đã dường này,
V2072                 "Phận hèn dầu rủi, dầu may tại người."
V2073                           Giác Duyên nghe nói rụng rời,
V2074                 Nửa thương, nửa sợ, bồi hồi chẳng xong.
V2075                           Rỉ tai mới kể sự lòng:
V2076                 "Ở đây cửa Phật là không hẹp gì.
V2077                           "E chăng những sự bất kỳ,
V2078                 "Ðể nàng cho đến thế thì cũng thương!
V2079                           "Lánh xa trước liệu tìm đường,
V2080                 "Ngồi chờ nước đến, nên dường còn quê!"
V2081                           Có nhà họ Bạc bên kia,
V2082                 Am mây quen lối đi về dầu hương.
V2083                           Nhắn sang, dặn hết mọi đường,
V2084                 Dọn nhà hãy tạm cho nàng trú chân.
V2085                           Những mầng được chốn an thân,
V2086                 Vội vàng nào kịp tính gần tính xa.
V2087                           Nào ngờ cũng tổ bợm già,
V2088                 Bạc Bà học với Tú Bà đồng môn!
V2089                           Thấy nàng mặn phấn, tươi son,
V2090                 Mầng thầm được buổi bán buôn có lời.
V2091                           Hư không đặt để nên lời,
V2092                 Nàng đà lớn sự rụng rời lắm phen.
V2093                           Mụ càng xua đuổi cho liền,
V2094                 Lấy lời hung hiểm, ép duyên Châu Trần.
V2095                           Rằng: "Nàng muôn dặm một thân,
V2096                 "Lại mang lấy tiếng dữ gần, lành xa.
V2097                           "Khéo oan gia, của phá gia!
V2098                 "Còn ai dám chứa vào nhà nữa đây?
V2099                           "Kíp toan kiếm chốn xe dây,
V2100                 "Không dưng chưa dễ mà bay đàng trời!
V2101                           "Nơi gần thì chẳng tiện nơi,
V2102                 "Nơi xa thì chẳng có người nào xa.
V2103                           "Này chàng Bạc Hạnh cháu nhà,
V2104                 "Cùng trong thân thích ruột rà, chẳng ai.
V2105                           "Cửa nhà buôn bán châu Thai,
V2106                 "Thực thà có một, đơn sai chẳng hề.
V2107                           "Thế nào nàng cũng phải nghe,
V2108                 "Thành thân rồi sẽ liệu về châu Thai.
V2109                           "Bấy giờ ai lại biết ai,
V2110                 "Dầu lòng bể rộng, sông dài thênh thênh.
V2111                           "Nàng dầu quyết chẳng thuận tình,
V2112                 "Trái lời nẻo trước, lụy mình đến sau!"
V2113                           Nàng càng mặt ủ mày chau,
V2114                 Càng nghe mụ nói, càng đau như rần.
V2115                           Nghĩ mình túng đất, sẩy chân,
V2116                 Thế cùng, nàng mới xa gần thở than:
V2117                           "Thiếp như con én lạc đàn,
V2118                 "Phải cung, rày đã sợ làn cây cong.
V2119                           "Cùng đường dầu tính chữ tòng,
V2120                 "Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao?
V2121                           "Nữa khi muôn một thế nào,
V2122                 "Bán hùm buôn sói, chắc vào lưng đâu?
V2123                           "Dầu ai lòng có sở cầu,
V2124                 "Tâm mình, xin quyết với nhau một lời.
V2125                           "Chứng minh có đất có trời,
V2126                 "Bấy giờ vượt bể, ra khơi quản gì!"
V2127                           Ðược lời mụ mới ra đi,
V2128                 Mách tin họ Bạc tức thì sắm sanh.
V2129                           Một nhà dộn dịp linh đình,
V2130                 Quét sân, đặt trác, rửa bình, thắp nhang.
V2131                           Bạc sinh quì xuống vội vàng,
V2132                 Quá lời nguyện hết Thành hoàng, Thổ công.
V2133                           Trước sân lòng đã giãi lòng,
V2134                 Trong màn làm lễ tơ hồng kết duyên.
V2135                           Thành thân, mới rước xuống thuyền,
V2136                 Thuận buồm một lá, xuôi miền châu Thai.
V2137                           Thuyền vừa đỗ bến thảnh thơi,
V2138                 Bạc sinh lên trước tìm nơi mọi ngày.
V2139                           Cũng nhà hành viện xưa nay,
V2140                 Cũng phường bán thịt, cũng tay buôn người.
V2141                           Xem người, định giá, vừa rồi,
V2142                 Mối hàng một, đã ra mười thì buông.
V2143                           Mượn người, thuê kiệu, rước nàng,
V2144                 Bạc đem mặt bạc, kiếm đường cho xa.
V2145                           Kiệu hoa đặt trước thềm hoa,
V2146                 Bên trong thấy một mụ ra vội vàng.
V2147                           Ðưa nàng vào lạy gia đường,
V2148                 Cũng thần mày trắng, cũng phường lầu xanh!
V2149                           Thoắt trông nàng đã biết tình,
V2150                 Chim lồng khôn lẽ cất mình bay cao.
V2151                           "Chém cha cái số hoa đào,
V2152                 "Gỡ ra rồi lại buộc vào như chơi!
V2153                           "Nghĩ đời mà ngán cho đời!
V2154                 "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen!
V2155                           "Tiếc thay nước đã đánh phèn,
V2156                 "Mà cho bùn lại vẩn lên mấy lần!
V2157                           "Hồng quân với khách hồng quần,
V2158                 "Ðã xoay đến thế còn vần chửa tha.
V2159                           "Lỡ từ lạc bước, bước ra,
V2160                 "Cái thân liệu những từ nhà liệu đi.
V2161                           "Ðầu xanh đã tội tình gì,
V2162                 "Má hồng đến quá nửa thì chưa thôi?
V2163                           "Biết thân chạy thẳng khỏi trời,
V2164                 "Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày xanh."

Kiều và Từ Hải

V2165                           Lần thâu gió mát trăng thanh,
V2166                 Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi.
V2167                           Râu hầm, hàm én, mày ngài,
V2168                 Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
V2169                           Ðường đường một đấng anh hào,
V2170                 Côn quyền hơn sức, lược thao gồm tài.
V2171                           Ðội trời đạp đất ở đời,
V2172                 Họ Từ tên Hải, vốn người Việt-Ðông.
V2173                           Giang hồ quen thói vẫy vùng,
V2174                 Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
V2175                           Qua chơi thấy tiếng nàng Kiều,
V2176                 Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng.
V2177                           Thiếp danh đưa đến lầu hồng,
V2178                 Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.
V2179                           Từ rằng: "Tâm phúc tương cờ,
V2180                 "Phải người trăng gió vật vờ hay sao?
V2181                           "Bấy lâu nghe tiếng má đào,
V2182                 "Mắt xanh chẳng để ai vào, có không?
V2183                           "Một đời được mấy anh hùng,
V2184                 "Bõ chi cá chậu chim lồng mà chơi?"
V2185                           Nàng rằng: "Người dạy quá lời,
V2186                 "Thân này còn dám coi ai làm thường!
V2187                           "Chút riêng chọn đá thử vàng,
V2188                 "Biết đâu mà gửi can tràng vào đâu?
V2189                           "Còn như vào trước ra sau,
V2190                 "Ai cho kén chọn vàng thau tại mình?"
V2191                           Từ rằng: "Lời nói hữu tình!
V2192                 "Khiến người lại nhớ câu Bình nguyên quân.
V2193                           "Lại đây xem lại cho gần,
V2194                 "Phỏng tin được một vài phần hay không?"
V2195                           Thưa rằng: "Lượng cả bao dung,
V2196                 "Tấn Dương được thấy mây rồng có phen.
V2197                           "Rộng thương cỏ nội, hoa hèn,
V2198                 "Chút thân bèo bọt dám phiền mai sau."
V2199                           Nghe lời vừa ý, gật đầu,
V2200                 Cười rằng: "Tri kỷ trước sau mấy người?
V2201                           "Khen cho con mắt tinh đời,
V2202                 "Anh hùng, đoán giữa trần ai mới già!
V2203                           "Một lời đã biết đến ta,
V2204                 "Muôn chung, nghìn tứ, cũng là có nhau!"
V2205                           Hai bên ý hợp tâm đầu,
V2206                 Khi thân, chẳng lựa là cầu mới thân!
V2207                           Ngỏ lời nói với băng nhân,
V2208                 Tiền trăm lại cứ nguyên ngân phát hoàn.
V2209                           Buồng riêng sửa chốn thanh nhàn,
V2210                 Ðặt giường thất bảo, vây màn bát tiên.
V2211                           Trai anh hùng, gái thuyền quyên,
V2212                 Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
V2213                           Nửa năm hương lửa đương nồng,
V2214                 Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương.
V2215                           Trông vời trời bể mênh mang,
V2216                 Thanh gươm, yên ngựa, lên đàng thẳng rong.
V2217                           Nàng rằng: "Phận gái chữ tòng,
V2218                 "Chàng đi, thiếp cũng một lòng xin đi."
V2219                           Từ rằng: "Tâm phúc tương tri,
V2220                 "Sao không thoát khỏi nữ nhi thường tình?
V2221                           "Bao giờ mười vạn tinh binh,
V2222                 "Tiếng chiêng dậy đất, bóng tinh rợp đường;
V2223                           "Làm cho rõ mặt phi thường,
V2224                 "Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi gia.
V2225                           "Bằng nay bốn bể không nhà,
V2226                 "Theo càng thêm bận, biết là đi đâu?


V2227                           "Ðành lòng chờ đón ít lâu,
V2228                 "Chầy chăng là một năm sau vội gì?"
V2229                           Quyết lời dứt áo ra đi,
V2230                 Gió đưa bằng tiện đến kỳ dặm khơi.
V2231                           Nàng thì chiếc bóng song mai,
V2232                 Ðêm thâu đằng đẵng, nhặt cài then mây.
V2233                           Sân rêu chẳng vẽ dấu giày,
V2234                 Cỏ cao hơn thước, liễu gày vài phân.
V2235                           Ðoái thương muôn dặm tử phần,
V2236                 Hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa.
V2237                           Xót thay huyên cỗi, xuân già,
V2238                 Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi?
V2239                           Chốc là mười mấy năm trời,
V2240                 Còn ra khi đã da mồi tóc sương.
V2241                           Tiếc thay chút nghiã cũ càng,
V2242                 Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.
V2243                           Duyên em dầu nối chỉ hồng,
V2244                 May ra khi đã tay bồng tay mang.
V2245                           Tấc lòng cố quốc tha hương,
V2246                 Ðường kia, nỗi nọ, ngổn ngang bời bời.
V2247                           Cánh hồng bay bổng tuyệt vời,
V2248                 Ðã mòn con mắt, phương trời đăm đăm.
V2249                           Ðêm ngày luống những âm thầm,
V2250                 Lửa binh đâu đã ầm ầm một phương.
V2251                           Ngất trời sát khí mơ màng,
V2252                 Ðầy sông kình ngạc, chật đường giáp binh.
V2253                           Người quen thuộc, kẻ chung quanh,
V2254                 Nhủ nàng hãy tạm lánh mình một nơi.
V2255                           Nàng rằng: "Trước đã hẹn lời,
V2256                 "Dẫu trong nguy hiểm, dám rời uớc xưa."
V2257                           Còn đương dùng dắng, ngẩn ngơ,
V2258                 Mái ngoài đã thấy bóng cờ tiếng loa.
V2259                           Giáp binh kéo đến quanh nhà,
V2260                 Ðồng thanh cùng gửi: "Nào là phu nhân?"
V2261                           Hai bên mười vị tướng quân,
V2262                 Ðặt gươm, cởi giáp, trước sân khấu đầu.
V2263                           Cung nga, thế nữ nối sau,
V2264                 Rằng: "Vâng lệnh chỉ rước chầu vu qui."
V2265                           Sẵn sàng phượng liễn, loan nghi,
V2266                 Hoa quan chấp chới, hà y rỡ ràng.
V2267                           Dựng cờ nổi trống lên đàng,
V2268                 Trúc tơ nổi trước, đào vàng kéo sau.
V2269                           Hỏa bài tiền lộ ruổi mau,
V2270                 Nam đình, nghe động trống chầu đại doanh.
V2271                           Kéo cờ lũy, phát súng thành,
V2272                 Từ công ra ngựa, thân nghênh cửa ngoài.
V2273                           Lữa mình là vẻ cân đai,
V2274                 Hãy còn hàm én, mày ngài như xưa.
V2275                           Cười rằng: "Cá nước duyên ưa,
V2276                 "Nhớ lời nói những bao giờ hay không?
V2277                           "Anh hùng mới biết anh hùng,
V2278                 "Rày xem phỏng đã cam lòng ấy chưa?"
V2279                           Nàng rằng: "Chút phận ngây thơ,
V2280                 "Cũng may dây cát được nhờ bóng cây.
V2281                           "Ðến bây giờ mới thấy đây,
V2282                 "Mà lòng đã chắc những ngày một hai."
V2283                           Cùng nhau trông mặt cả cười,
V2284                 Dang tay về chống trướng mai tự tình.
V2285                           Tiệc bày thưởng tưởng khao binh,
V2286                 Om thòm trống trận, rập rình nhạc quân.
V2287                           Vinh hoa bõ lúc phong trần,
V2288                 Chữ tình ngày lại thêm xuân một ngày.

Ân trả báo đền

V2289                           Trong quân có lúc vui vầy,
V2290                 Thong dong mới kể sự ngày hàn vi.
V2291                           Khi Vô Tích, khi Lâm Chuy,
V2292                 Nơi thì lừa đảo, nơi thì xót thương.
V2293                           "Tấm thân rày đã nhẹ nhàng,
V2294                 "Chút còn ân oán, đôi đường chưa xong."
V2295                           Từ công nghe nói thủy chung,
V2296                 Bất bình nổi trận đùng đùng sấm vang.
V2297                           Nghiêm quân, tuyển tướng sẵn sàng,
V2298                 Dưới cờ một lệnh vội vàng ruổi sao.
V2299                           Ba quân chỉ ngọn cờ đào,
V2300                 Ðạo ra Vô Tích, đạo vào Lâm Chuy.
V2301                           Mấy người phụ bạc xưa kia,
V2302                 Chiếu danh tầm nã, bắt về hỏi tra.
V2303                           Lại sai lệnh tiễn truyền qua,
V2304                 Giữ giàng họ Thúc một nhà cho yên.
V2305                           Mụ quản gia, vãi Giác Duyên,
V2306                 Cũng sai lệnh tiễn đem tin rước mời.
V2307                           Thệ sư kể hết mọi lời,
V2308                 Lòng lòng cùng giận, người người chấp uy.
V2309                           Ðạo trời báo phục chỉn ghê,
V2310                 Khéo thay! Một mẻ tóm về đầy nơi.
V2311                           Quân trung, gươm lớn, giáo dài,
V2312                 Vệ trong thị lập, cơ ngoài song phi.
V2313                           Sẵn sàng tề chỉnh uy nghi,
V2314                 Bác đồng chật đất, tinh kỳ rợp sân.
V2315                           Trướng hùm mở giữa trung quân,
V2316                 Từ công sánh với phu nhân cùng ngồi.
V2317                           Tiên nghiêm, trống chửa dứt hồi,
V2318                 Ðiểm danh trước dẫn chực ngoài cửa viên.
V2319                           Từ rằng: "Ân oán hai bên,
V2320                 "Mặc nàng xử quyết, báo đền cho minh."
V2321                           Nàng rằng: "Nhờ cậy uy linh,
V2322                 "Hãy xin báo đáp ân tình cho phu.
V2323                           "Báo ân rồi sẽ trả thù."
V2324                 Từ rằng: "Việc ấy để cho mặc nàng."
V2325                           Cho gươm mời đến Thúc lang,
V2326                 Mặt như chàm đổ, mình dường giẽ giun.
V2327                           Nàng rằng: "Nghiã trọng nghìn non,
V2328                 "Lâm Chuy người cũ, chàng còn nhớ không?
V2329                           "Sâm, Thương, chẳng vẹn chữ tòng,
V2330                 "Tại ai, há dám phụ lòng cố nhân?
V2331                           "Gấm trăm cuốn, bạc nghìn cân,
V2332                 "Tạ lòng dễ xứng báo ân gọi là.
V2333                           "Vợ chàng quỉ quái, tinh ma,
V2334                 "Phen này kẻ cắp, bà già gặp nhau.
V2335                           "Kiến bò miệng chén chưa lâu,
V2336                 "Mưu sâu cũng trả nghiã sâu cho vừa!"
V2337                           Thúc sinh trông mặt bấy giờ,
V2338                 Mồ hôi chàng đã như mưa ướt dầm.
V2339                           Lòng riêng mừng sợ khôn cầm,
V2340                 Sợ thay, mà lại mừng thầm cho ai.
V2341                           Mụ già, sư trưởng, thứ hai,
V2342                 Thoắt đưa đến trước, vội mời lên trên.
V2343                           Dắt tay, mở mặt cho nhìn:
V2344                 "Hoa nô kia,với Trạc Tuyền, cũng tôi.
V2345                           "Nhớ khi lỡ bước, sẩy vời,
V2346                 "Non vàng chưa dễ đền bồi tấm thương.
V2347                           "Nghìn vàng gọi chút lễ thường,
V2348                 "Mà lòng Xiếu mẫu mấy vàng cho cân!"
V2349                           Hai người trông mặt tần ngần,
V2350                 Nửa phần khiếp sợ, nửa phần mừng vui.
V2351                           Nàng rằng: "Xin hãy rốn ngồi,
V2352                 "Xem cho rõ mặt, biết tôi báo thù!"
V2353                           Kiếp truyền chư tướng hiến phù,
V2354                 Lại đem các tích phạm đồ hậu tra.
V2355                           Dưới cờ, gươm tuốt nắp ra,
V2356                 Chính danh thủ phạm tên là Hoạn thư.
V2357                           Thoắt trông, nàng đã chào thưa:
V2358                 "Tiểu thư cũng có bây giờ đén đây!
V2359                           "Ðàn bà dễ có mấy tay,
V2360                 "Ðời xưa mấy mặt, đời này mấy gan!
V2361                           "Dễ dàng là thói hồng nhan,
V2362                 "Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều!"
V2363                           Hoạn thư hồn lạc phách xiêu,
V2364                 Khấu đầu dưới trướng, lựa điều kêu ca.
V2365                           Rằng: "Tôi chút dạ đàn bà,
V2366                 "Ghen tuông, thì cũng người ta thường tình!
V2367                           "Nghĩ cho khi các viết kinh,
V2368                 "Với khi khỏi cửa, dứt tình chẳng theo.
V2369                           "Lòng riêng, riêng cũng kính yêu,
V2370                 "Chồng chung, chưa dễ ai chiều cho ai!
V2371                           "Trót lòng gây việc chông gai,
V2372                 "Còn nhờ lượng bể thương bài nào chăng."
V2373                           Khen cho: "Thật đã nên rằng,
V2374                 "Khôn ngoan đến mực, nói năng phải lời.
V2375                           "Tha ra thì cũng may đời,
V2376                 "Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
V2377                           "Ðã lòng tri quá thì nên!"
V2378                 Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
V2379                           Tạ lòng, lạy trước sân mây,
V2380                 Cửa viên lại dắt một dây dẫn vào.
V2381                           Nàng rằng: "Lồng lộng trời cao!
V2382                 "Hại nhân, nhân hại, sự nào tại ta?"
V2383                          Trước là Bạc Hạnh, Bạc bà,
V2384                 Bên là Ưng, Khuyển, bên là Sở Khanh.
V2385                           Tú bà cùng Mã Giám Sinh,
V2386                 Các tên tội ấy đáng tình còn sao?
V2387                           Lệnh quân truyền xuống nội đao,
V2388                 Thề sao, thì lại cứ sao ra hình.
V2389                           Máu rơi, thịt nát, tan tành,
V2390                 Ai ai trông thấy hồn kinh, phách rời.
V2391                           Cho hay muôn sự tại trời,
V2392                 Phụ người chẳng bõ khi người phụ ta!
V2393                           Mấy người bạc ác tinh ma,
V2394                 Mình làm, mình chịu, kêu mà ai thương!
V2395                           Ba quân đông mặt pháp trường,
V2396                 Thanh thiên, bạch nhật, rõ ràng cho coi
V2397                           Việc nàng báo phục vừa rồi,
V2398                 Giác Duyên vội đã gửi lời từ qui.
V2399                           Nàng rằng: "Thiên tải nhất thì,
V2400                 "Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.
V2401                           "Rồi đây bèo hợp mây tan,
V2402                 "Biết đâu hạc nội, mây ngàn là đâu?"
V2403                           Sư rằng: "Cũng chẳng mấy lâu,
V2404                 "Trong năm năm lại gặp nhau đó mà.
V2405                           "Nhớ ngày hành cước phương xa,
V2406                 "Gặp sư Tam hợp, vốn là tiên tri.
V2407                           "Báo cho hội hợp chi kỳ:
V2408                 "Năm nay là một, nữa thì năm năm.
V2409                           "Mới hay tiền định chẳng lầm,
V2410                 "Ðã tin điều trước, ắt nhằm điều sau.
V2411                           "Còn nhiều ân ái với nhau,
V2412                 "Cơ duyên nào đã hết đâu vội gì?"
V2413                           Nàng rằng: "Tiền định tiên tri.
V2414                 "Lời sư đã dạy, ắt thì chẳng sai,
V2415                           "Họa bao giờ có gặp người.
V2416                 "Vì tôi cậy hỏi một lời chung thân."
V2417                           Giác Duyên vâng dặn ân cần,
V2418                 Tạ từ, thoắt đã dời chân cõi ngoài.
V2419                           Nàng từ ân oán rạch ròi,
V2420                 Bể oan dường đã vơi vơi cạnh lòng.
V2421                           Tạ ân, lạy trước Từ công:
V2422                 "Chút thân bồ liễu nào mong có rày.
V2423                           "Trộm nhờ sấm sét ra tay,
V2424                 "Tấc riêng như cất gánh đầy đổ đi.
V2425                           "Khắc xương ghi dạ xiết chi,
V2426                 "Dễ đem gan óc đền nghì trời mây!"
V2427                           Từ rằng: "Quốc sĩ xưa nay,
V2428                 "Chọn người tri kỷ một ngày được chăng?
V2429                           "Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
V2430                 "Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha!
V2431                           "Huống chi việc cũng việc nhà,
V2432                 "Lựa là thâm tạ, mới là tri ân!
V2433                           "Xót nàng còn chút song thân,
V2434                 "Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa.
V2435                           "Sao cho muôn dặm một nhà,
V2436                 "Cho người thấy mặt, là ta cam lòng."
V2437                           Vội truyền sửa tiệc quân trung,
V2438                 Muôn binh, nghìn tướng hội đồng tẩy oan.

Từ Hải bỏ mình

V2439                           Thừa cơ trúc chẻ, ngói tan,
V2440                 Binh uy từ đấy sấm ran trong ngoài.
V2441                           Triều đình riêng một góc trời,
V2442                 Gồm hai văn võ, rạch đôi sơn hà.
V2443                           Ðòi cơn gió quét mưa sa,
V2444                 Huyện thành đạp đổ năm tòa cõi nam.
V2445                           Phong trần, mài một lưỡi gươm,
V2446                 Những loài giá áo, túi cơm sá gì!
V2447                          Nghênh ngang một cõi biên thùy,
V2448                 Thiếu gì cô quả, thiếu gì bá vương.
V2449                           Trước cờ ai dám tranh cường,
V2450                 Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
V2451                           Có quan Tổng đốc trọng thần,
V2452                 Là Hồ Tôn Hiến, kinh luân gồm tài.
V2453                           Ðẩy xe vâng chỉ đặc sai,
V2454                 Tiện nghi bát tiễu, việc ngoài đổng nhung.
V2455                           Biết Từ là đấng anh hùng,
V2456                 Biết nàng cũng dự quân trung luận bàn.
V2457                           Ðóng quân, làm chước chiêu an,
V2458                 Ngọc, vàng, gấm vóc, sai quan thuyết hàng.
V2459                           Lại riêng một lễ với nàng:
V2460                 Hai tên thể nữ, ngọc vàng nghìn cân.
V2461                           Tin vào gửi trước trung quân,
V2462                 Từ công riêng hãy mười phân hồ đồ.
V2463                           "Một tay gây dựng cơ đồ,
V2464                 "Bấy lâu bể Sở, sông Ngô tung hoành!
V2465                           "Bó thân về với triều đình,
V2466                 "Hàng thần lơ láo, phận mình ra đâu?
V2467                           "Áo xiêm buộc trói lấy nhau,
V2468                 "Vào luồn ra cúi, công hầu mà chi!
V2469                           "Sao bằng riêng một biên thùy,
V2470                 "Sức này đã dễ làm gì được nhau.
V2471                           "Chọc trời, khuấy nước, mặc dầu,
V2472                 "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai."
V2473                           Nàng thì thật dạ tin người,
V2474                 Lễ nhiều, nói ngọt, nghe lời dễ xiêu.
V2475                           "Nghĩ mình mặt nước cánh bèo,
V2476                 "Ðã nhiều lưu lạc, lại nhiều gian truân.
V2477                           "Bằng nay chịu tiếng vương thần,
V2478                 "Thênh thênh đường cái thanh vân hẹp gì.
V2479                           "Công, tư, vẹn cả hai bề,
V2480                 "Dần dà rồi sẽ liệu về cố hương.
V2481                           "Cũng ngôi mệnh phụ đường đường,
V2482                 "Nở nang mày mặt, rỡ ràng mẹ cha.
V2483                           "Trên vì nước, dưới vì nhà,
V2484                 "Một là đắc hiếu, hai là đắc trung.
V2485                           "Chẳng hơn chiếc bách giữa dòng,
V2486                 "E dè gió dập, hãi hùng sóng và."
V2487                           Nhân khi bàn bạc gần xa,
V2488                 Thừa cơ, nàng mới bàn ra nói vào.
V2489                           Rằng: "Ơn Thánh đế dồi dào,
V2490                 "Tưới ra đã khắp, thấm vào đã sâu.
V2491                           "Bình thành công đức bấy lâu,
V2492                 "Ai ai cũng đội trên đầu biết bao.
V2493                           "Ngẫm từ dấy việc binh đao,
V2494                 "Ðống xương vô định đã cao bằng đầu.
V2495                           "Làm chi để tiếng về sau,
V2496                 "Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào.
V2497                           "Sao bằng lộc trọng, quyền cao,
V2498                 "Công danh ai dứt lối nào cho qua?"
V2499                           Nghe lời nàng nói mặn mà,
V2500                 Thế công, Từ mới đổi ra thế hàng.
V2501                           Chỉnh nghi tiếp sứ vội vàng,
V2502                 Hẹn kỳ thúc giáp, quyết đường giải binh.
V2503                           Tin lời thành hạ yêu minh,
V2504                 Ngọn cờ ngơ ngác, trống canh trễ tràng.
V2505                           Việc binh bỏ chẳng giữ giàng,
V2506                 Vương sư dò đã tỏ tường thực hư.
V2507                           Hồ-công quyết kế thừa cơ,
V2508                 Lễ tiên, binh hậu, khắc cờ tập công.
V2509                           Kéo cờ chiêu phủ tiên phong,
V2510                 Lễ nghi giàn trước, bác đồng phục sau.
V2511                           Từ-công hờ hững biết đâu?
V2512                 Ðại quan lễ phục ra đầu cửa viên.
V2513                           Hồ-công ám hiệu trận tiền,
V2514                 Ba bề phát súng, bốn bên kéo cờ.
V2515                           Ðang khi bất ý chẳng ngờ,
V2516                 Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn!
V2517                           Tử sinh, liều giữa trận tiền,
V2518                 Dạn dầy cho biết gan liền tướng quân!

V2519                           Khí thiêng khi đã về thần,
V2520                 Nhơn nhơn còn đứng chôn chân giữa vòng.
V2521                           Trơ như đá, vững như đồng,
V2522                 Ai lay chẳng chuyển, ai rung chẳng rời.
V2523                           Quan quân truy sát đuổi dài,
V2524                 Ầm ầm sát khí, ngất trời ai đang.
V2525                           Trong hào, ngoài lũy, tan hoang,
V2526                 Loạn quân vừa dắt tay nàng đến nơi.
V2527                           Trong vòng tên đá bời bời,
V2528                 Thấy Từ còn đứng giữa trời trơ trơ.
V2529                           Khóc rằng: "Trí, dũng có thừa,
V2530                 "Bởi nghe lời thiếp đến cơ hội này!
V2531                           "Mặt nào trông thấy nhau đây?
V2532                 "Thà liều sống chết một ngày với nhau!"
V2533                           Dòng thu như xối cơn sầu,
V2534                 Dứt lời, nàng cũng gieo đầu một bên.
V2535                           Lạ thay oan khí tương triền!
V2536                 Nàng vừa phục xuống, Từ liền ngã ra.
V2537                           Quan quân, kẻ lại người qua,
V2538                 Xót nàng, sẽ lại vực ra dần dần.
V2539                           Ðem vào đến trước trung quân,
V2540                 Hồ-công thấy mặt, ân cần hỏi han.
V2541                           Rằng: "Nàng chút phận hồng nhan,
V2542                 "Gặp cơn binh cách, nhiều nàn cũng thương!
V2543                           "Ðã hay thành toán miếu đường,
V2544                 "Chấp công cũng có lời nàng mới nên.
V2545                           "Bây giờ sự đã vẹn tuyền,
V2546                 "Mặc lòng nghĩ lấy, muốn xin bề nào?"
V2547                           Nàng càng giọt ngọc tuôn đào,
V2548                 Ngập ngừng mới gửi thấp cao sự lòng.
V2549                           Rằng: "Từ là đấng anh hùng,
V2550                 "Dọc ngang trời rộng, vẫy vùng bể khơi.
V2551                           "Tin tôi nên quá nghe lời,
V2552                 "Ðem thân bách chiến làm tôi Triều đình.
V2553                           "Ngỡ là phu quí phụ vinh,
V2554                 "Ai ngờ một phút tan tành thịt xương!
V2555                           "Năm năm trời bể ngang tàng,
V2556                 "Dẫn mình đi bỏ chiến tràng như không.
V2557                           "Khéo khuyên kể lấy làm công,
V2558                 "Kể bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu!
V2559                           "Xét mình công ít, tội nhiều,
V2560                 "Sống thừa, tôi đã nên liều mình tôi!
V2561                           "Xin cho thiển thổ một đôi,
V2562                 "Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh."
V2563                           Hồ-công nghe nói thương tình,
V2564                 Truyền cho kiểu táng di hình bên sông.

Quyên sinh

V2565                           Trong quân mở tiệc hạ công,
V2566                 Xôn xao tơ trúc, hội đồng quân quan.
V2567                           Bắt nàng thị yến dưới màn,
V2568                 Giở say, lại ép vặn đàn nhặt tâu.
V2569                           Một cung gió tủi mưa sầu,
V2570                 Bốn dây rỏ máu năm đầu ngón tay.
V2571                           Ve ngâm, vượn hót, nào tày,
V2572                 Lọt tai Hồ cũng nhăn mày, rơi châu.
V2573                           Hỏi rằng: "Này khúc ở đâu?
V2574                 "Nghe ra muôn oán, nghìn sầu lắm thay!"
V2575                           Thưa rằng: "Bạc mệnh khúc này,
V2576                 "Phổ vào đàn ấy những ngày còn thơ.
V2577                           "Cung cầm, lựa những ngày xưa,
V2578                 "Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây!"
V2579                           Nghe càng đắm, đắm càng say,
V2580                 Lạ cho mặt sắt cũng ngây vì tình!
V2581                           Dạy rằng: "Hương hỏa ba sinh,
V2582                 "Dây loan xin nối cầm lành cho ai."
V2583                           Thưa rằng: "Chút phận lạc loài,
V2584                 "Trong mình, nghĩ đã có người thác oan.
V2585                           "Còn chi nữa, cánh hoa tàn,
V2586                 "Tơ lòng đã dứt, dây đàn Tiểu lân.
V2587                           "Rộng thương còn mảnh hồng quần,
V2588                 "Hơi tàn được thấy gốc phần là may!"
V2589                           Hạ công chén đã quá say,
V2590                 Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra.
V2591                           Nghĩ mình phương diện quốc gia,
V2592                 Quan trên nhắm xuống, người ta trông vào.
V2593                           Phải tuồng trăng gió hay sao?
V2594                 Sự này, biết tính thế nào được đây?
V2595                           Công nha vừa buổi rạng ngày,
V2596                 Quyết tình, Hồ mới đoán ngay một bài.
V2597                           Lệnh quan ai dám cãi lời?
V2598                 Ép tình mới gán cho người thổ quan.
V2599                           Ông tơ thực nhé đa đoan!
V2600                 Xe tơ sao khéo vơ quàng vơ xiên?
V2601                           Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền,
V2602                 Lá rèm rủ thấp, ngọn đèn khêu cao.
V2603                           Nàng càng ủ liễu phai đào,
V2604                 Trăm phần, nào có phần nào phần tươi.
V2605                           "Ðành thân cát dập sóng vùi,
V2606                 "Cướp công cha mẹ, thiệt đời thông minh!
V2607                           "Chân trời, mặt bể, lênh đênh,
V2608                 "Nắm xương biết gửi tử sinh chốn nào?
V2609                           "Duyên đâu, ai dứt tơ đào?
V2610                 "Nợ đâu, ai đã dắt vào tận tay?
V2611                           "Thân sao, thân đến thế này?
V2612                 "Còn ngày nào cũng dư ngày ấy thôi!
V2613                           "Ðã không biết sống là vui,
V2614                 "Tấm thân nào biết thiệt thòi là thương!
V2615                           "Một mình cay đắng trăm đường,
V2616                 "Thôi thì nát ngọc, tan vàng, thì thôi!"
V2617                           Mảnh trăng đã gác non đoài,
V2618                 Một mình luống những đứng ngồi chưa xong.
V2619                           Triều đâu nổi sóng đùng đùng,
V2620                 Hỏi ra mới biết là sông Tiền-đường.
V2621                           Nhớ lời thần mộng rõ ràng,
V2622                 "Này thôi hết kiếp đoạn tràng là đây!
V2623                           "Ðạm Tiên, nàng nhé có hay?
V2624                 "Hẹn ta thì đợi dưới này rước ta."
V2625                           Dưới đèn sẵn bức tiên hoa,
V2626                 Một thiên tuyệt bút, gọi là để sau.
V2627                           Cửa bồng vội mở rèm châu,
V2628                 Trời cao, sông rộng, một màu bao la.
V2629                           Rằng: "Từ công hậu đãi ta,
V2630                 "Xót vì việc nước mà ra phụ lòng.
V2631                           "Giết chồng mà lại lấy chồng,
V2632                 "Mặt nào mà lại đứng trong cõi đời?
V2633                           "Thôi thì một thác cho rồi,
V2634                 "Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông!"
V2635                           Trông vời con nước mênh mông,
V2636                 Ðem mình gieo xuống giữa dòng tràng giang.
V2637                           Thổ quan theo với vội vàng,
V2638                 Thì đà đắm ngọc, chìm hương cho rồi!
V2639                           Thương thay! Cũng một thân người,
V2640                 Hại thay! Mang lấy sắc tài làm chi?
V2641                           Những là oan khổ lưu ly,
V2642                 Chờ cho hết kiếp, còn gì là thân?
V2643                           Mười lăm năm, bấy nhiêu lần,
V2644                 Làm gương cho khách hồng quần thử soi.
V2645                           Ðời người đến thế thì thôi!
V2646                 Trong cơ âm cực, dương hồi khôn hay.
V2647                           Mấy người hiếu nghiã xưa nay,
V2648                 Trời làm chi đến lâu ngày càng thương.

Giải thoát

V2649                           Giác Duyên từ tiết giã nàng,.
V2650                 Ðeo bầu quảy níp, rộng đường vân du.
V2651                           Gặp bà Tam hợp đạo cô,
V2652                 Thong dong, hỏi hết nhỏ to sự nàng:
V2653                           "Người sao hiếu nghiã đủ đường,
V2654                 "Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?"
V2655                           Sư rằng: "Phúc họa đạo Trời,
V2656                 "Cỗi nguồn, cũng ở lòng người mà ra.
V2657                           "Có Trời mà cũng tại ta,
V2658                 "Tu là cõi phúc, tình là dây oan.
V2659                           "Thúy Kiều sắc sảo, khôn ngoan,
V2660                 "Vô duyên là phận hồng nhan đã đành.
V2661                           "Lại mang lấy một chữ tình,
V2662                 "Khư khư mình buộc lấy mình vào trong.
V2663                           "Vậy nên những chốn thong dong,
V2664                 "Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
V2665                           "Ma đưa lối, quỷ  đưa đường,
V2666                 "Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
V2667                           "Hết nạn ấy, đến nạn kia,
V2668                 "Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần.
V2669                           "Trong vòng giáo dựng, gươm trần,
V2670                 "Kề lưng hùm sói, gửi thân tôi đòi.
V2671                           "Giữa dòng nước dẫy sóng giồi,
V2672                 "Trước hàm rồng cá, gieo mồi vắng tanh.
V2673                           "Oan kia theo mãi với tình,
V2674                 "Một mình mình biết, một mình mình hay.
V2675                           "Làm cho sống đọa thác đầy,
V2676                 "Ðoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!"
V2677                           Giác Duyên nghe nói rụng rời:
V2678                 "Một đời nàng nhé! Thương ôi còn gì?"
V2679                           Sư rằng: "Song chẳng hề chi,
V2680                 "Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
V2681                           "Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều,
V2682                 "Mắc điều tình ái, khỏi điều tà dâm.
V2683                           "Lấy tình thâm, trả nghiã thâm,
V2684                 "Bán mình đã động hiếu tâm đến Trời.
V2685                           "Hại một người, cứu một người,
V2686                 "Biết đường khinh trọng, biết lời phải chăng.
V2687                           "Thực công đức ấy ai bằng,
V2688                 "Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi.
V2689                           "Khi nên, Trời cũng chiều người,
V2690                 "Nhẹ nhàng nợ trước, đền bồi duyên sau.
V2691                           "Giác Duyên dầu nhớ nghiã nhau,
V2692                 "Tiền Ðường thả một bè lau rước người.
V2693                           "Trước sau cho vẹn một lời,
V2694                 "Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không?"
V2695                           Giác Duyên nghe nói mầng lòng,
V2696                 Lân la tìm thú bên sông Tiền đường.
V2697                           Ðánh tranh, chụm nóc thảo đường,
V2698                 Một gian nước biếc, mây vàng chia đôi.
V2699                           Thuê năm, ngư phủ hai người,
V2700                 Ðóng thuyền chực bến, kết chài giăng sông.
V2701                           Một lòng chẳng quản mấy công,
V2702                 Khéo thay! Gặp gỡ cũng trong chuyển vần.
V2703                           Kiều từ gieo xuống dòng ngân,
V2704                 Nước xuôi bỗng đã trôi dần tận nơi.
V2705                           Ngư ông kéo lưới vớt người,
V2706                 Ngẫm lời Tam hợp rõ mười chẳng ngoa!
V2707                           Trên mui lướt thướt áo là,
V2708                 Tuy dầm hơi nước, chưa lòa bóng gương.
V2709                           Giác Duyên nhận thật mặt nàng,
V2710                 Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng (nồng) chưa phai.
V2711                           Mơ màng phách quế, hồn mai,
V2712                 Ðạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa.
V2713                           Rằng: "Tôi đã có lòng chờ,
V2714                 "Mất công mười mấy năm thừa ở đây.
V2715                           "Chị sao phận mỏng, đức dày?
V2716                 "Kiếp xưa đã vậy, lòng này dễ ai!
V2717                           "Tâm thành đã thấu đến Trời,
V2718                 "Bán mình là hiếu, cứu người là nhân.
V2719                           "Một niềm vì nước vì dân,
V2720                 "Âm công cất một đồng cân đã già.
V2721                           "Ðoạn trường sổ, rút tên ra,
V2722                 "Ðoạn trường thơ, phải đưa mà trả nhau.
V2723                           "Còn nhiều hưởng thụ về sau,
V2724                 "Duyên xưa đầy đặn, phúc sau dồi dào."
V2725                           Nàng còn ngơ ngẩn biết sao,
V2726                 "Trạc Tuyền!" nghe tiếng gọi vào bên tai.
V2727                           Giật mình thoắt tỉnh giấc mai,
V2728                 Bâng khuâng, nào đã biết ai mà nhìn.
V2729                           Trong thuyền, nào thấy Ðạm Tiên?
V2730                 Bên mình chỉ thấy Giác Duyên ngồi kề.
V2731                           Thấy nhau mầng rỡ trăm bề,
V2732                 Dọn thuyền, mới rước nàng về thảo lư.
V2733                           Một nhà chung chạ sớm trưa,
V2734                 Gió trăng mát mặt, muối dưa chay lòng.
V2735                          Bốn bề bát ngát mênh mông,
V2736                 Triều dâng hôm sớm, mây lồng trước sau.
V2737                           Nạn xưa, trút sạch lầu lầu,
V2738                 Duyên xưa chưa dễ biết đâu chốn này.

Ngày trở về của Kim Trọng

V2739                           Nỗi nàng tai nạn đã đầy,
V2740                 Nỗi chàng Kim Trọng bấy chầy mới thương.
V2741                           Từ ngày muôn dặm phù tang,
V2742                 Nửa năm ở đất Liêu dương lại nhà.
V2743                           Vội sang vườn Thúy dò la,
V2744                 Nhìn xem phong cảnh nay đà khác xưa.
V2745                           Ðầy đường cỏ mọc lau thưa,
V2746                 Song trăng quạnh quẽ, vách mưa rã rời.
V2747                           Trước sau nào thấy bóng người,
V2748                 Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông.
V2749                           Xập xè én liệng lầu không,
V2750                 Cỏ lan mặt đất, rêu phong dấu giày.
V2751                           Cuối tường gai gốc mọc đầy,
V2752                 Ði về, này những lối này năm xưa.
V2753                           Chung quanh lặng ngắt như tờ,
V2754                 Nỗi niềm tâm sự bây giờ hỏi ai?
V2755                           Láng giềng có kẻ sang chơi,
V2756                 Lân la sẽ hỏi một hai sự tình.
V2757                           Hỏi ông, ông mắc tụng đình,
V2758                 Hỏi nàng, nàng đã bán mình chuộc cha.
V2759                           Hỏi nhà, nhà đã dời xa,
V2760                 Hỏi chàng Vương với Vương bà, Thúy Vân.
V2761                           Ðều là sa sút, khó khăn,
V2762                 Thuê may, bán viết, kiếm ăn lần hồi.
V2763                           Ðiều đâu sét đánh lưng trời,
V2764                 Thoạt nghe, chàng thoắt rụng rời xiết bao!
V2765                           Vội han di trú nơi nao?
V2766                 Ðánh đường, chàng mới tìm vào tận nơi.
V2767                           Nhà tranh, vách đất tả tơi,
V2768                 Lau treo rèm nát, trúc gài phên thưa.
V2769                           Một sân đất cỏ dầm mưa,
V2770                 Càng ngao ngán nỗi, càng ngơ ngẩn dường!
V2771                           Ðánh liều lên tiếng ngoài tường,
V2772                 Chàng Vương nghe tiếng, vội vàng chạy ra.
V2773                           Dắt tay vội rước vào nhà,
V2774                 Mái sau, viên ngoại ông bà ra ngay.
V2775                           Khóc than kể hết niềm tây:
V2776                 "Chàng ôi! Biết nỗi nước này cho chưa?
V2777                           "Kiều nhi phận mỏng như tờ,
V2778                 "Một lời đã lỗi tóc tơ với chàng!
V2779                           "Gặp cơn gia biến lạ dường,
V2780                 "Bán mình nó đã tìm đường cứu cha.
V2781                           "Dùng dằng khi bước chân ra,
V2782                 "Cực trăm nghìn nỗi, dặn ba bốn lần.
V2783                           "Trót lời nặng với lang quân,
V2784                 "Mượn con em nó Thúy Vân thay lời.
V2785                           "Gọi là trả chút nghiã người,
V2786                 "Sầu này dằng dặc muôn đời chưa quên!
V2787                           "Kiếp này duyên đã phụ duyên,
V2788                 "Dạ đài còn biết, sẽ đền lai sinh.
V2789                           "Mấy lời ký chú đinh ninh,
V2790                 "Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.
V2791                           "Phận sao bạc bấy, Kiều nhi!
V2792                 "Chàng Kim về đó, con thì đi đâu?"
V2793                           Ông bà càng nói càng đau,
V2794                 Chàng càng nghe nói, càng dầu như dưa.
V2795                           Vật mình, vẫy gió, tuôn mưa,
V2796                 Dầm dề giọt ngọc, thẫn thờ hồn mai.
V2797                           Ðau đòi đoạn, ngất đòi thôi,
V2798                 Tỉnh ra lại khóc, khóc rồi lại mê.
V2799                           Thấy chàng đau nỗi biệt ly,
V2800                 Nhận ngừng, ông mới vỗ về giải khuyên:
V2801                           "Bây giờ ván đã đóng thuyền,
V2802                 "Ðã đành phận bạc, khôn đền tình chung!
V2803                           "Quá thương chút nghiã đèo bòng,
V2804                 "Nghìn vàng thân ấy, dễ hòng bỏ sao?"
V2805                           Dỗ dành, khuyên giải trăm chiều,
V2806                 Lửa phiền càng dập, càng khêu mối phiền.
V2807                           Thề xưa giở đến kim hoàn,
V2808                 Của xưa lại giở đến đàn với hương.
V2809                           Sinh càng trông thấy, càng thương,
V2810                 Gan càng tức tối, ruột càng xót xa.
V2811                           Rằng: "Tôi trót quá chân ra,
V2812                 "Ðể cho đến nỗi trôi hoa, dạt bèo.
V2813                           "Cùng nhau thề thốt đã nhiều,
V2814                 "Những điều vàng đá, phải điều nói không?
V2815                           "Chưa chăn gối cũng vợ chồng,
V2816                 "Lòng nào mà nỡ dứt lòng cho đang?
V2817                           "Bao nhiêu của, mấy ngày đàng,
V2818                 "Còn tôi, tôi gặp mặt nàng mới thôi!"
V2819                           Nỗi thương nói chẳng hết lời,
V2820                 Tạ từ, Sinh mới sụt sùi trở ra.
V2821                           Vội về sửa chốn vườn hoa,
V2822                 Rước mời viên ngoại ông bà cùng sang.
V2823                           Thần hôn, chăm chút lễ thường,
V2824                 Dưỡng thân, thay tấm lòng nàng ngày xưa.
V2825                           Ðinh ninh mài lệ, chép thư,
V2826                 Cắt người tìm tõi, đưa tờ nhắn nhe.
V2827                           Biết bao công mượn, của thuê,
V2828                 Lâm thanh mấy độ đi về dặm khơ.
V2829                           Người một nơi, hỏi một nơi,
V2830                 Mênh mông nào biết bể trời nơi nao?
V2831                           Sinh càng thảm thiết, khát khao,
V2832                 Như nung gan sắt, như bào lòng son.
V2833                           Ruột tằm ngày một héo dòn,
V2834                 Tuyết sương ngày một hao mòn mình ve.
V2835                           Thẩn thơ, lúc tỉnh, lúc mê,
V2836                 Máu theo nước mắt, hồn lìa chiêm bao.
V2837                           Xuân huyên lo sợ biết bao,
V2838                 Quá ra, khi đến thế nào mà hay!
V2839                           Vội vàng sắm sửa chọn ngày,
V2840                 Duyên Vân sớm đã xe dây cho chàng.
V2841                           Người yểu điệu, kẻ văn chương,
V2842                 Trai tài, gái sắc, xuân đương vừa thì.
V2843                           Tuy rằng vui chữ vu qui,
V2844                 Vui này, đã cất sầu kia được nào!
V2845                           Khi ăn ở, lúc ra vào,
V2846                 Càng sâu duyên mới, càng dào tình xưa.
V2847                           Nỗi nang nhớ đến bao giờ,
V2848                 Tuôn châu đôi trận, vò tơ trăm vòng.
V2849                           Có khi vắng vẻ thư phòng,
V2850                 Ðốt lò hương, giở phím đồng ngày xưa.
V2851                           Bẻ bai, rủ rỉ tiếng tơ,
V2852                 Trầm bay lạt khói, gió đưa lay rèm.
V2853                           Dường như bên nóc bên thềm,
V2854                 Tiếng Kiều đồng vọng, bóng xiên mơ màng.
V2855                           Bởi lòng tạc đá ghi vàng,
V2856                 Tưởng nàng, nên lại thấy nàng về đây.
V2857                           Những là phiền muộn đêm ngày,
V2858                 Xuân thu, biết đã đổi thay mấy lần.
V2859                           Chế khoa gặp hội tràng văn,
V2860                 Vương, Kim, cùng chiếm bảng xuân một ngày.
V2861                           Cửa trời rộng mở đường mây,
V2862                 Hoa chào ngõ hạnh, hương bay dặm phần.
V2863                           Chàng Vương nhớ đến xa gần,
V2864                 Sang nhà Chung lão tạ ân chu tuyền.
V2865                           Tình xưa, ân trả, nghiã đền,
V2866                 Gia thân bèn mới kết duyên Châu Trần.
V2867                           Kim từ nhẹ bước thanh vân,
V2868                 Nỗi nàng, càng nghĩ xa gần, càng thương.
V2869                           Ấy ai dặn ngọc thề vàng,
V2870                 Bây giờ kim mã, ngọc đường với ai.
V2871                           Rễ bèo, chân sóng lạc loài,
V2872                 Nghĩ mình vinh hiển, thương người lưu ly.
V2873                           Vâng ra ngoại nhận Lâm Chuy,
V2874                 Quan sơn nghìn dặm, thê nhi một đoàn.
V2875                           Cầm đường ngày tháng thanh nhàn,
V2876                 Sớm khuya tiếng hạc, tiếng đàn tiêu dao.
V2877                           Phòng xuân trướng rủ hoa đào,
V2878                 Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng.
V2879                           Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng,
V2880                 Nghe lời, chàng cũng hai đường tin nghi.
V2881                           Nọ Lâm Thanh với Lâm Chuy,
V2882                 Khác nhau một chữ, hoặc khi có lầm.
V2883                           Trong cơ thành khí, tương tầm,
V2884                 Ở đây hoặc có giai âm chăng là?
V2885                           Thăng đường chàng mới hỏi tra,
V2886                 Họ Ðô có kẻ lại già thưa lên:
V2887                           "Sự này đã ngoại mười niên,
V2888                 "Tôi đã biết mặt, biết tên rành rành.
V2889                           "Tú bà cùng Mã Giám Sinh,
V2890                 "Ði mua người ở Bắc kinh đưa về.
V2891                           "Thúy Kiều tài sắc ai bì,
V2892                 "Có nghề đàn lại đủ nghề văn thơ.
V2893                           "Kiên trinh chẳng phải gan vừa,
V2894                 "Liều mình thế ấy, phải lừa thế kia.
V2895                           "Phong trần chịu đã ê chề,
V2896                 "Dây duyên, sau lại gả về Thúc lang.
V2897                           "Phải tay vợ cả phũ phàng,
V2898                 "Bắt về Vô tích, toan đường bẻ hoa.
V2899                           "Bực mình, nàng mới trốn ra,
V2900                 "Chẳng may lại gặp một nhà Bạc kia.
V2901                           "Thoắt buôn về, thoắt bán đi,
V2902                 "Mây trôi bèo nổi, thiếu gì là nơi!
V2903                           "Bỗng đâu lại gặp một người,
V2904                 "Hơn người trí dũng, nghiêng trời uy linh.
V2905                           "Trong tay muôn vạn tinh binh,
V2906                 "Kéo về đóng chật một thành Lâm Chuy.
V2907                           "Tóc tơ các tích mọi khi,
V2908                 "Oán thì trả oán, ân thì trả ân.
V2909                           "Ðã nên có nghiã có nhân,
V2910                 "Trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen.
V2911                           "Chưa tường được họ được tên,
V2912                 "Sự này, hỏi Thúc Sinh viên mới tường."
V2913                           Nghe lời Ðỗ nói rõ ràng,
V2914                 Tức thì đệ thiếp mời chàng Thúc Sinh.
V2915                           Nỗi nàng hỏi hết phân minh,
V2916                 Chồng con đâu tá, tính danh là gì?
V2917                           Thúc rằng: "Gặp lúc lưu ly,
V2918                 "Trong quân, tôi hỏi thiếu gì tóc tơ.
V2919                           "Ðại vương tên Hải họ Từ,
V2920                 "Ðánh quen trăm trận, sức dư muôn người.
V2921                           "Gặp nàng thì ở châu Thai,
V2922                 "Lạ gì quốc sắc, thiên tài phải duyên.
V2923                           "Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên,
V2924                 "Làm nên động địa, kinh thiên đùng đùng.
V2925                           "Ðại quân đồn đóng cõi đông,
V2926                 "Về sau chẳng biết vân mồng làm sao?"
V2927                           Nghe tường ngành ngọn tiêu hao,
V2928                 Lòng riêng, chàng luống lao đao thẫn thờ.
V2929                           Xót thay chiếc lá bơ vơ,
V2930                 Kiếp trần, biết dũ bao giờ cho xong?
V2931                           Hoa theo nước chảy xuôi dòng,
V2932                 Xót thân chìm nổi, đau lòng hợp tan!
V2933                           Lời xưa đã lỗi muôn vàn,
V2934                 Mảnh hương còn đó, phím đàn còn đây.
V2935                           Ðàn cầm khéo ngẩn ngơ dây,
V2936                 Lửa hương biết có kiếp này nữa thôi?
V2937                           Bình bồng còn chút xa xôi,
V2938                 Ðỉnh chung sao nỡ ăn ngồi cho an!
V2939                           Rắp mong treo ấn từ quan,
V2940                 Mấy sông cũng lội, mấy ngàn cũng qua.
V2941                           Giấn mình trong áng can qua,
V2942                 Vào sinh ra tử, họa là thấy nhau.
V2943                           Nghĩ điều trời thẳm vực sâu,
V2944                 Bóng chim tăm cá, biết đâu mà nhìn?
V2945                           Những là nấn ná đợi tin,
V2946                 Nắng mưa đã biết mấy phen đổi dời!
V2947                           Năm mây, bỗng thấy chiếu Trời,
V2948                 Khâm ban sắc chỉ đến nơi rành rành.
V2949                           Kim thì cải nhậm Nam bình,
V2950                 Chàng Vương, cũng cải nhậm thành Phú dương.
V2951                           Sắm sanh xe ngựa vội vàng,
V2952                 Hai nhà cùng thuận một đường phó quan.
V2953                           Xẩy nghe thế giặc đã tan,
V2954                 Sóng êm Phúc kiến, lửa tàn Tích giang.
V2955                           Ðược tin Kim mới rủ Vương,
V2956                 Tiện đường, cùng lại tìm nàng sau xưa.
V2957                           Hàng-châu đến đó bấy giờ,
V2958                 Thật tin hỏi được tóc tơ rành rành.
V2959                           Rằng: "Ngày hôm nọ giao binh,
V2960                 "Thất cơ, Từ đã thu linh trận tiền.
V2961                           "Nàng Kiều công cả, chẳng đền,
V2962                 "Lệnh quan lại bắt ép duyên Thổ-tù.
V2963                           "Nàng đà gieo ngọc, trầm châu,
V2964                 "Sông Tiền đường đó, ấy mồ hồng nhan!"
V2965                           Thương ôi! Không hợp mà tan,
V2966                 Một nhà vinh hiển, riêng oan một nàng!

Trùng phùng

V2967                           Chiêu hồn, thiết vị, lễ thường,
V2968                 Giải oan, lập một đàn tràng bên sông.
V2969                           Ngọn triều non bạc trùng trùng,
V2970                 Vời trông còn tưởng cánh hồng lúc gieo.
V2971                           Tình thâm, bể thảm, lạ điều,
V2972                 Nào hồn tinh vệ biết theo chốn nào?
V2973                           Cơ duyên đâu bỗng lạ sao?
V2974                 Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi.
V2975                           Trông lên linh vị chữ bài,
V2976                 Thất kinh mới hỏi: "Những người đâu ta?
V2977                           "Với nàng thân thích gần xa?
V2978                 "Người còn, sao bỗng làm ma khóc người?"
V2979                           Nghe tin ngơ ngác rụng rời,
V2980                 Xúm quanh kể họ, rộn lời hỏi tra:
V2981                           "Này chồng, này mẹ, này cha,
V2982                 "Này là em ruột, này là em dâu.
V2983                           "Thật tin nghe đã bấy lâu,
V2984                 "Pháp sư dạy thế, sự đâu lạ dường!"
V2985                           Sư rằng: "Nhân quả với nàng,
V2986                 "Lâm chuy buổi trước, Tiền đường buổi sau.
V2987                           "Khi nàng gieo ngọc, trầm châu,
V2988                 "Ðón nhau, tôi đã gặp nhau rước về.
V2989                           "Cùng nhau nương cửa Bồ-đề,
V2990                 "Thảo-am đó, cũng gần kề chẳng xa.
V2991                           "Phật tiền ngày bạc lân la,
V2992                 "Ðăm đăm, nàng cũng nhớ nhà khôn khuây."
V2993                           Nghe tin, nở mặt nở mày,
V2994                 Mầng nào lại quá mầng này nữa chăng?
V2995                           Từ phen chiếc lá lìa rừng,
V2996                 Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây.
V2997                           Rõ ràng hoa rụng hương bay,
V2998                 Kiếp sau họa thấy, kiếp này hẳn thôi.
V2999                           Minh, dương, đôi ngã chắc rồi,
V3000                 Cõi trần mà lại thấy người cửu nguyên.
V3001                           Cùng nhau lạy tạ Giác Duyên,
V3002                 Bộ hành một lũ, theo liền một khi.
V3003                           Bẻ lau, vạch cỏ, tìm đi,
V3004                 Tình thâm luống hãy hồ nghi nửa phần.
V3005                           Quanh co theo giải giang tân,
V3006                 Khỏi rừng lau đã tới sân Phật đường.
V3007                           Giác Duyên lên tiếng gọi nàng,
V3008                 Buồng trong, vội dạo sen vàng bước ra.
V3009                           Trông xem đủ mặt một nhà:
V3010                 Xuân già còn khỏe, huyên già còn tươi.
V3011                           Hai em phương trưởng hòa hai,
V3012                 Nọ chàng Kim đó, là người ngày xưa!
V3013                           Tưởng bây giờ là bao giờ,
V3014                 Rõ ràng mở mắt, còn ngờ chiêm bao!
V3015                           Giọt châu thánh thót quyên bào,
V3016                 Mầng mầng, tủi tủi, biết bao sự tình!
V3017                           Huyên già dưới gối gieo mình,
V3018                 Khóc than, mình kể sự mình đầu đuôi:
V3019                           "Từ con lưu lạc quê người,
V3020                 "Bèo trôi, sóng vỗ, chốc mười lăm năm.
V3021                           "Tính rằng sông nước cát lầm,
V3022                 "Kiếp này, ai lại còn cầm gặp đây?"
V3023                           Ông bà trông mặt, cầm tay,
V3024                 Dung quang chẳng khác chi ngày bước ra.
V3025                           Bấy chầy dãi nguyệt dầu hoa,
V3026                 Mười phần xuân có gầy ba bốn phần.
V3027                           Nỗi mầng, biết lấy chi cân?
V3028                 Lời tan hợp, chuyện xa gần, thiếu đâu?
V3029                           Hai em hỏi trước han sau,
V3030                 Ðứng trông, chàng cũng trở sầu làm tươi.
V3031                           Quây nhau lạy trước Phật đài,
V3032                 Tái-sinh trần tạ lòng người từ bi.
V3033                           Kiệu hoa giục giã tức thì,
V3034                 Vương ông dạy rước cùng về một nơi.
V3035                           Nàng rằng: "Chút phận hoa rơi,
V3036                 "Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay.
V3037                           "Tính rằng mặt nước chân mây,
V3038                 "Lòng nào còn tưởng có rày nữa không?
V3039                           "Ðược rày tái thế tương phùng,
V3040                 "Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay.
V3041                           "Ðã đem mình bỏ am mây,
V3042                 "Tuổi này gửi với cỏ cây cũng vừa.
V3043                           "Mùi thiền, đã bén muối dưa,
V3044                 "Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.
V3045                           "Sự đời đã tắt lửa lòng,
V3046                 "Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?
V3047                           "Dở dang nào có hay gì?
V3048                 "Ðã tu, tu trót qua thì, thì thôi!
V3049                           "Trùng sinh ân nặng biển trời,
V3050                 "Lòng nào nỡ dứt nghiã người ra đi?"
V3051                           Ông rằng: "Bỉ thử nhất thì,
V3052                 "Tu hành thì cũng phải khi tòng quyền.
V3053                           "Phải điều cầu Phật cầu tiên,
V3054                 "Tình kia, hiếu nọ, ai đền cho đây?
V3055                           "Ðộ sinh nhờ đức cao dày,
V3056                 "Lập am, rồi sẽ rước thầy ở chung."
V3057                           Nghe lời nàng phải chiều lòng,
V3058                 Giã sư, giã cảnh, đều cùng bước ra.
V3059                           Một đoàn về đến quan nha,
V3060                 Ðoàn viên, vội mở tiệc hoa vui vầy.
V3061                           Tàng tàng, chén cúc dở say,
V3062                 Ðứng lên, Vân mới giải bày một hai.
V3063                           Rằng: "Trong tác hợp cơ trời,
V3064                 "Hai bên gặp gỡ, một lời kết giao.
V3065                           "Gặp cơn bình địa ba đào,
V3066                 "Vậy đem duyên chị buộc vào duyên em.
V3067                           "Cũng là phận cải, duyên kim,
V3068                 "Cũng là máu chảy ruột mềm chứ sao?
V3069                           "Những là rày ước mai ao,
V3070                 "Mười lăm năm ấy, biết bao nhiêu tình!
V3071                           "Bây giờ gương vỡ lại lành,
V3072                 "Khuôn thiêng lừa lọc, đã đành có nơi.
V3073                           "Còn duyên may lại còn người,
V3074                 "Còn vầng trăng bạc, còn lời nguyền xưa.
V3075                           "Quả mai ba bảy đương vừa,
V3076                 "Dào non sớm liệu xe tơ kịp thì."
V3077                           Dứt lời, nàng vội gạt đi:
V3078                 "Sự muôn năm cũ kể chi bây giờ?
V3079                           "Một lời tuy có ước xưa,
V3080                 "Xét mình dãi gió, dầm mưa đã nhiều.
V3081                           "Nói càng hổ thẹn trăm chiều,
V3082                 "Thì cho ngọn nước thủy triều chảy xuôi!"
V3083                           Chàng rằng: "Nói cũng lạ đời!
V3084                 "Dẫu lòng kia vậy, còn lời ấy sao?
V3085                           "Một lời đã trót thâm giao,
V3086                 "Dưới giày có đất, trên cao có trời!
V3087                           "Dẫu rằng vật đổi sao dời,
V3088                 "Tử sinh cũng giữ lấy lời tử sinh!
V3089                           "Duyên kia có phụ chi tình,
V3090                 "Mà toan chia gánh chung tình làm hai?"
V3091                           Nàng rằng: "Gia thất duyên hài,
V3092                 "Chút lòng ân ái, ai ai cũng lòng.
V3093                           "Nghĩ rằng: Trong đạo vợ chồng,
V3094                 "Hoa thơm phong nhụy, trăng vòng tròn gương.
V3095                           "Chữ trinh đáng giá nghìn vàng,
V3096                 "Ðuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa!
V3097                           "Thiếp từ ngộ biến đến giờ,
V3098                 "Ong qua, bướm lại, đã thừa xấu xa.
V3099                           "Bấy chầy gió táp mưa sa,
V3100                 "Mấy trăng cũng khuyết, mấy hoa cũng tàn!
V3101                           "Còn chi là cái hồng nhan?
V3102                 "Ðã xong thân thế, còn toan nỗi nào?
V3103                           "Nghĩ mình chẳng hổ mình sao?
V3104                 "Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
V3105                           "Ðã hay chàng nặng vì tình,
V3106                 "Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!
V3107                           "Từ rày khép cửa phòng thu,
V3108                 "Chẳng tu thì cũng như tu mới là!
V3109                           "Chàng dầu nghĩ đến tình xa,
V3110                 "Ðem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.
V3111                           "Nói chi kết tóc xe tơ?
V3112                 "Ðã buồn cả ruột, lại dơ cả đời!"
V3113                           Chàng rằng: "Khéo nói nên lời!
V3114                 "Mà trong lẽ phải có người có ta.
V3115                           "Xưa nay trong đạo đàn bà,
V3116                 "Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:
V3117                           "Có khi biến, có khi thường,
V3118                 "Có quyền, nào phải một đường chấp kinh?
V3119                           "Như nàng lấy hiếu làm trinh,
V3120                 "Bụi nào cho đục được mình ấy vay?
V3121                           "Trời còn để có hôm nay,
V3122                 "Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
V3123                           "Hoa tàn mà lại thêm tươi,
V3124                 "Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.
V3125                           "Có điều chi nữa mà ngờ,
V3126                 "Khách qua đường để hững hờ chàng Tiêu?"
V3127                           Nghe chàng nói đã hết điều,
V3128                 Hai thân thì cũng quyết theo một bài.
V3129                           Hết lời khôn lẽ chối lời,
V3130                 Cúi đầu, nàng những ngắn dài thở than.
V3131                           Nhà vừa mở tiệc đoàn viên,
V3132                 Hoa soi ngọn đuốc, hồng chen bức là.
V3133                           Cùng nhau giao bái một nhà,
V3134                 Lễ đà đủ lễ, đôi đà đủ đôi.
V3135                           Ðộng phòng dìu dặt chén mồi,
V3136                 Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.
V3137                           Những từ sen ngó đào tơ,
V3138                 Mười lăm năm, mới bây giờ là đây!
V3139                           Tình duyên ấy, hợp tan này,
V3140                 Bi hoan mấy nỗi, đêm chầy trăng cao.
V3141                           Canh khuya bức gấm rủ thao,
V3142                 Dưới đèn tỏ dạng, má đào thêm xuân.
V3143                           Tình nhân lại gặp tình nhân,
V3144                 Hoa xưa ong cũ, mấy phân chung tình!
V3145                           Nàng rằng: "Phận thiếp đã đành,
V3146                 "Có làm chi nữa cái mình bỏ đi!
V3147                           "Nghĩ chàng nghiã cũ tình ghi,
V3148                 "Chiều lòng gọi có xướng tùy mảy may.
V3149                           "Riêng lòng đã thẹn lắm thay,
V3150                 "Cũng là mặt dạn, mày dày khó coi!
V3151                           "Những như âu yếm vành ngoài,
V3152                 "Còn toan mở mặt với người cho qua.
V3153                           "Lại như những thói người ta,
V3154                 "Vớt hương dưới đất, bẻ hoa cuối mùa.
V3155                           "Cũng dơ giở nhuốc bày trò,
V3156                 "Còn tình đâu nữa, là thù đấy thôi!
V3157                           "Người yêu, ta xấu với người,
V3158                 "Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau.
V3159                           "Cửa nhà dù tính về sau,
V3160                 "Thì còn em đó, lọ cầu chị đây?
V3161                           "Chữ trinh còn một chút này,
V3162                 "Chẳng cầm cho vững, lại giày cho tan!
V3163                           "Còn nhiều ân ái chan chan,
V3164                 "Hay gì vầy cái hoa tàn mà chơi?"
V3165                           Chàng rằng: "Gắn bó một lời,
V3166                 "Bỗng không cá nước, chim trời lỡ nhau.

V3167                           "Xót người lưu lạc bấy lâu,
V3168                 "Tưởng thề thốt nặng cũng đau đớn nhiều!
V3169                           "Thương nhau sinh tử đã liều,
V3170                 "Gặp nhau còn chút bấy nhiêu là tình.
V3171                           "Chừng xuân tơ liễu còn xanh,
V3172                 "Nghĩ rằng chưa thoát khỏi vành ái ân.
V3173                           "Gương trong chẳng chút bụi trần,
V3174                 "Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.
V3175                           "Bấy lâu đáy bể mò kim,
V3176                 "Là nhiều vàng đá, phải tìm trăng hoa?
V3177                           "Ai ngờ lại hợp một nhà,
V3178                 "Lọ là chăn gối, mới ra sắt cầm!"
V3179                           Nghe lời sửa áo, cài trâm,
V3180                 Khấu đầu lạy tạ cao thâm nghìn trùng.
V3181                           "Thân tàn gạn đục khơi trong,
V3182                 "Là nhờ quân tử khác lòng người ta.
V3183                           "Mấy lời tâm phúc ruột rà,
V3184                 "Tương tri dường ấy, mới là tương tri!
V3185                           "Chở che, đùm bọc, thiếu gì?
V3186                 "Trăm năm danh tiết cũng vì đêm nay!"
V3187                           Thoắt thôi, tay lại cầm tay,
V3188                 Càng yêu vì nết, càng say vì tình.
V3189                           Thêm nến giá, nối hương bình,
V3190                 Cùng nhau lại chúc chén quỳnh giao hoan.
V3191                          Tình xưa lai láng khôn hàn,
V3192                 Thong dong, lại hỏi ngón đàn ngày xưa.
V3193                           Nàng rằng: "Vì mấy đường tơ,
V3194                 "Làm người cho đến bây giờ mới thôi!
V3195                           "Ăn năn thì sự đã rồi!
V3196                 "Nể lòng người cũ, vâng lời một phen."
V3197                           Phím đàn dìu dặt tay tiên,
V3198                 Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
V3199                           Khúc đầu đầm ấm dương hòa!
V3200                 Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh?
V3201                           Khúc đâu êm ái xuân tình!
V3202                 Ấy hồn Thục đế hay mình đỗ-quyên?
V3203                           Trong sao châu rõ duềnh quyên,
V3204                 Ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông!
V3205                           Lọt tai nghe suốt năm cung,
V3206                 Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao.
V3207                           Chàng rằng: "Phổ ấy tay nào?
V3208                 "Xưa sao sầu thảm, nay sao vui vầy?
V3209                           "Tẻ vui bởi tại lòng này,
V3210                 "Hay là khổ-tận đến ngày cam-lai?"
V3211                           Nàng rằng: "Vì chút nghề chơi,
V3212                 "Ðoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!
V3213                           "Một phen tri kỷ cùng nhau,
V3214                 "Cuốn dây từ đấy, về sau cũng chừa."
V3215                           Truyện trò chưa cạn tóc tơ,
V3216                 Gà đà gáy sáng, trời vừa rạng đông.
V3217                           Tình riêng, chàng lại nói sòng,
V3218                 Một nhà ai cũng lạ lùng khen khao.
V3219                           Cho hay thục nữ chí cao,
V3220                 Phải người sớm mận tối đào như ai?

Ðoạn kết

V3221                           Hai tình vẹn vẽ hòa hai,
V3222                 Chẳng trong chăn gối, cũng ngoài cầm thơ.
V3223                           Khi chén rượu, lúc cuộc cờ,
V3224                 Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
V3225                           Ba sinh đã phỉ mười nguyền,
V3226                 Duyên đôi lứa cũng là duyên bạn bầy.
V3227                           Nhớ lời, lập một am mây,
V3228                 Khiến người thân tín rước thầy Giác Duyên.
V3229                           Ðến nơi đóng cửa gài then,
V3230                 Rêu trùm kẽ ngạch, cỏ lên mái nhà.
V3231                           Sư đà hái thuốc phương xa,
V3232                 Mây bay, hạc lánh, biết là tìm đâu?
V3233                           Nặng vì chút nghiã bấy lâu,
V3234                 Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai.
V3235                           Một nhà phúc lộc gồm hai,
V3236                 Nghìn năm dằng dặc, quan giai lần lần.
V3237                           Thừa gia chẳng hết nàng Vân,
V3238                 Một cây cù-mộc, một san quế-hòe.
V3239                           Phong lưu phú quí ai bì,
V3240                 Vườn xuân một cửa để bia muôn đời.
V3241                           Ngẫm hay muôn sự tại trời,
V3242                 Trời kia đã bắt làm người có thân.
V3243                           Bắt phong trần, phải phong trần,
V3244                 Cho thanh cao, mới được phần thanh cao.
V3245                           Có đâu thiên vị người nào,
V3246                 Chữ Tài, chữ Mệnh dồi dào cả hai.
V3247                           Có tài, mà cậy chi tài?
V3248                 Chữ tài liền với chữ tai một vần.
V3249                           Ðã mang lấy nghiệp vào thân,
V3250                 Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.
V3251                           Thiện căn ở tại lòng ta,
V3252                 Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài!
V3253                           Lời quê chắp nhặt dông dài,

V3254                 Mua vui cũng được một vài trống canh.