Wednesday, November 27, 2019


Việt Nam tiếp tục ‘biết ơn’ tử sĩ Trung Quốc hy sinh cho độc lập quốc gia

Việt Nam tiếp tục ‘biết ơn’ tử sĩ Trung Quốc hy sinh cho độc lập quốc gia
05/04/2019


Khoảng 50 người, bao gồm Đại sứ Trung Quốc Hùng Ba và các quan chức Việt Nam, cúi đầu tưởng niệm các liệt sĩ Trung Quốc trong buổi tưởng niệm ngày 4/4/2019.

Các quan chức Việt Nam vừa cùng với Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam, ông Hùng Ba, tham dự một buổi lễ dâng hương tưởng niệm các tử sĩ Trung Quốc tại Việt Nam vào ngày 4/4.

Trong khi truyền thông trong nước im lặng trước thông tin này, hãng thông tấn chính thức của nhà nước Trung Quốc, Tân Hoa Xã, hôm 5/4 có bài viết lớn tường thuật chi tiết sự kiện, và cho biết ngoài Đại sứ Hùng Ba, các doanh nghiệp, sinh viên và nhân viên truyền thông Trung Quốc, còn có các quan chức địa phương, đại diện Hội Hữu nghị Việt-Trung và các thanh niên tình nguyện Việt Nam tham dự lễ dâng hương tại Nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc ở xã Linh Sơn, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên trong dịp lễ Thanh Minh.

Dẫn thông tin từ Đại sứ quán Trung Quốc, Tân Hoa Xã nhắc lại rằng Bắc Kinh đã cử hơn 320.000 lính Trung Quốc sang Việt Nam chiến đấu giúp bảo vệ độc lập theo yêu cầu của đảng Cộng sản Việt Nam, và hơn 1.400 binh sĩ Trung Quốc đã ngã xuống trên đất Việt Nam.


“Những anh hùng đó đã hy sinh tại Việt Nam để giành độc lập cho đất nước chúng ta, vì hòa bình thế giới. Việc chăm sóc phần mộ của họ là cách mà chúng tôi thể hiện lòng tri ân và kính trọng những gì họ đã làm”, Tân Hoa Xã dẫn lời ông Vũ Xuân Hùng, Phó Chủ tịch UBND xã Linh Sơn, nói tại buổi lễ.

Theo lời quan chức của Việt Nam, chính quyền địa phương ở cấp xã, huyện và thành phố thường xuyên tổ chức các chuyến viếng thăm để tỏ lòng thành kính với những anh hùng Trung Quốc đã ngã xuống. Họ dâng hương, kiểm tra công việc dọn dẹp và thường xuyên có kế hoạch nâng cấp nghĩa trang vào những dịp như Tết Nguyên đán và Ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7).

Trong dịp này, Đại sứ Trung Quốc Hùng Ba cũng khẳng định các anh hùng của Trung Quốc “sẽ không bao giờ bị lãng quên”.

Ông nói: “Họ đã hy sinh tuổi trẻ và mạng sống của mình để xây dựng một tượng đài bất tử về tình hữu nghị và đoàn kết giữa hai nước và hai dân tộc”, vẫn theo Tân Hoa Xã.

Theo đại diện của Trung Quốc, mối quan hệ Trung-Việt hiện đã đạt tới một điểm mốc lịch sử mới và hai dân tộc sẽ chung tay tăng cường mối quan hệ một cách bền vững.

Sự kiện dâng hương tưởng niệm liệt sĩ Trung Quốc diễn ra vào thời điểm khá “nhạy cảm”, khi nhiều người dân Việt Nam vừa trải qua những ngày tưởng niệm cuộc chiến Biên giới 1979, mà Trung Quốc tuyên bố là để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì đã đưa quân sang Campuchia tiêu diệt Pol Pot.
Việt Nam tưởng niệm tử sĩ Trung Quốc giúp ‘bảo vệ độc lập’ (VOA)

118 Comments
[color=red]Xin coi từ đướng dẫn để đọc những comment.[/color]


Tuesday, November 26, 2019


Việt Nam vô cùng biết ơn sự hy sinh của liệt sĩ TQ

Wednesday, October 3, 2018
‘Việt Nam vô cùng biết ơn sự hy sinh của liệt sĩ TQ’ - Khánh An

HoangsaParacel: Dân Tộc Việt Nam không bao giờ biết ơn giặc tầu, ngoại trừ các đầu sỏ cộng sản Hà Nội và một số ít đảng viên tay sai tầu cộng.



Phái đoàn Trung-Việt đến viếng nghĩa trang "liệt sĩ" TQ ở Gia Lâm, Hà Nội, ngày 30/9/2018.

Sự kiện phái đoàn Đại sứ quán Trung Quốc cùng một số quan chức Việt Nam đi viếng nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc hôm 30/9 ở Hà Nội được truyền thông Trung Quốc tường thuật chi tiết, nói rằng Việt Nam “trân quý” và “vô cùng biết ơn” sự hy sinh của các liệt sĩ nước này trong cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc của Việt Nam.
Trong khi đó, sự kiện vốn được tường thuật hằng năm lại hoàn toàn vắng bóng trên truyền thông chính thống của Việt Nam gần đây, giữa bối cảnh âm hưởng làn sóng bài Trung vẫn chưa dứt sau các cuộc biểu tình “chưa từng có” diễn ra trên cả nước hồi tháng 6.

Theo tường thuật của Tân Hoa Xã và Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc hôm 2/10, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam, Doãn Hải Hồng, đã dẫn đầu một nhóm bao gồm đại diện các công ty Trung Quốc, lưu học sinh và “các đồng chí Việt Nam” đến thắp hương tại nghĩa trang liệt sĩ Trung Quốc ở Gia Lâm, Hà Nội, nhân Ngày Liệt sĩ của Trung Quốc (30/9).

“Chúng tôi vô cùng biết ơn sự hy sinh của các liệt sĩ Trung Quốc đã hy sinh mạng sống cho độc lập của Việt Nam và tình hữu nghị quý báu giữa hai nước”, hãng tin chính thức của nhà nước Trung Quốc dẫn lời bà Trần Thị Phương, Phó chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị thành phố Hà Nội, nói.

Quan chức của Việt Nam cho biết chính quyền địa phương cứ khoảng 3-4 tháng lại tiến hành bảo dưỡng nghĩa trang và phần mộ các liệt sĩ Trung Quốc một lần, đồng thời nâng cấp trên quy mô lớn mỗi 3-4 năm để bảo đảm nghĩa trang luôn trong tình trạng tốt đẹp.

Đáp lại, Đại biện lâm thời ĐSQ Trung Quốc Doãn Hải Hồng nói rằng “Sự phát triển hiện tại của mối quan hệ Trung-Việt chứng tỏ là máu của các liệt sĩ Trung Quốc đã không đổ ra vô ích”.


Bà Doãn Hải Hồng-Đại biện lâm thời Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam.

Trong lúc báo chí Trung Quốc “tốn sức” để đưa tin, truyền thông chính thống Việt Nam vài năm gần đây hầu như không đả động gì đến sự kiện này, giữa bối cảnh làn sóng chống Trung Quốc vẫn âm ỉ và bùng lên mỗi khi có sự kiện xung đột giữa hai nước.

TS. Trần Công Trục, nguyên trưởng Ban Biên giới chính phủ Việt Nam, nói trong mối quan hệ với Trung Quốc, các lãnh đạo Việt Nam luôn có chủ trương nhất quán là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, nhưng để thực hiện được chính sách này là một “bài toán khó khăn” trong bối cảnh hiện tại.

“Điều quan trọng là các lãnh đạo Việt Nam phải giữ được nguyên tắc vì lợi ích của đất nước”, TS. Trần Công Trục nói.

Cựu chiến binh Phan Tất Thành, người từng có thời gian học tập ở Trung Quốc, thừa nhận Trung Quốc có những đóng góp nhất định cho Việt Nam trong thời gian chiến tranh, nhưng không hẳn sự giúp đỡ đó đơn thuần chỉ vì “tình hữu nghị” giữa hai nước.

Người cựu chiến binh này nhắc lại những sự kiện như trận chiến Hoàng Sa 1974, cuộc chiến biên giới năm 1979, những diễn biến hiện nay ở Biển Đông và nói rằng: “Cũng có những con người cụ thể, trường hợp cụ thể, hy sinh cụ thể để giúp đỡ Việt Nam, nhưng về sâu xa, không bao giờ Trung Quốc muốn có một Việt Nam độc lập, hùng cường tồn tại bên cạnh Trung Quốc đâu”, ông Thành nói với VOA.

Theo Tân Hoa Xã, khoảng 60 năm trước, đã có hơn 320.000 người Trung Quốc sang giúp Việt Nam “bảo vệ độc lập và lãnh thổ theo yêu cầu của Việt Nam”. Hơn 1.400 người đã hy sinh tại Việt Nam. Trong đó, có 49 liệt sĩ Trung Quốc được an táng tại nghĩa trang Gia Lâm. Họ là thành viên của đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc viện trợ Việt Nam chống Pháp, Chi đội hậu cần 1 viện trợ Việt Nam chống Mỹ và nhóm chuyên gia cầu sông Hồng.

Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc nói họ đã “xây dựng lên đài hữu nghị Trung-Việt đời đời bất diệt bằng sinh mạng quý báu của mình”.

Vào trung tuần tháng 6 vừa qua, tại Việt Nam đã nổ ra cuộc biểu tình rầm rộ trên khắp các tỉnh thành để phải đối dự luật Đặc khu vì người dân lo sợ “mất chủ quyền” về tay Trung Quốc một khi các nhà đầu tư nước này đổ vào thuê đất đến 99 năm.

Các nhà phân tích quốc tế cho rằng một phần nguyên nhân khiến số lượng người dân tham gia biểu tình nhiều “chưa từng có” là vì thái độ cảnh giác và cảm xúc bài Trung Quốc đang gia tăng tại Việt Nam.

Áp lực của các cuộc biểu tình đã khiến Đại biện lâm thời Doãn Hải Hồng phải lên tiếng công khai nói rằng nguyên nhân của biểu tình là ở “nội bộ Việt Nam, không liên quan gì đến Trung Quốc”. Đồng thời, bà yêu cầu chính quyền Việt Nam bảo vệ cho các doanh nghiệp và công dân nước này đang ở Việt Nam.

Posted by hoangsaparacels.blogspot.com at 1:07 PM

Monday, November 25, 2019


Mở cho du khách Trung Quốc tự lái ô tô sang Việt Nam chơi

Mở cho du khách Trung Quốc tự lái ô tô sang Việt Nam chơi
thanhnientudo / Tháng Mười 11, 2016

UBND tỉnh Quảng Ninh vừa phê duyệt phương án thí điểm quản lý xe du lịch tự lái hoạt động qua lại giữa thành phố Móng Cái và TP Đông Hưng (Trung Quốc) qua cửa khẩu quốc tế Móng Cái.
Theo đó, từ ngày 01/01/2017 tỉnh này chấp nhận cho phép các loại phương tiện ô tô con 09 chỗ ngồi trở xuống, thuộc sở hữu cá nhân, doanh nghiệp đi tham quan du lịch của Trung Quốc nhập cảnh và tham quan du lịch ở Việt Nam và ngược lại.
Thời gian nhập cảnh và lưu trú tại Việt Nam, khách Trung Quốc được ở lại không quá 3 ngày/lần cấp phép, nếu bất khả kháng như tai nạn, hư hỏng phương tiện thì cấp gia hạn thêm 01 ngày.


Xe du lịch tự lái Trung Quốc sẽ được đi lại tại TP Móng Cái từ ngày 01/01/2017 theo quyết định của tỉnh Quảng Ninh và các cấp có thẩm quyền.

Doanh nghiệp (DN) được cấp phép hoạt động thí điểm này là Công ty CP Du lịch và dịch vụ Hồng Gai thực hiện quản lý khai thác thí điểm loại hình xe du lịch tự lái hoạt động qua lại giữa hai thành phố Móng Cái và Đông Hưng.

Theo quyết định phạm vi khách du lịch được phép di chuyển là TP Móng Cái (không vượt quá Trạm Kiểm soát liên hợp Km 15, bến tàu Dân Tiến, xe không được hoạt động trên tuyến quốc lộ 18C (thuộc vành đai biên giới) và các khu vực quân sự).

Về quy định nhận diện xe, tỉnh yêu cầu đơn vị tổ chức cá nhân dán logo trên các phương tiện thí điểm, mẫu logo do đơn vị tự xây dựng, đăng ký với Sở Giao thông Vận tải để thống nhất quản lý.
Đơn vị lữ hành phải ký hợp đồng trọn gói theo phương thức du lịch với đối tác trong tổ chức cho đoàn khách du lịch sử dụng ô tô du lịch tự lái, xuất và nhập cảnh vào Việt Nam. Theo quy định, DN phải bố trí nhân viên thông thạo tiếng Trung ngồi trên xe đầu tiên để dẫn đường cho đoàn xe du lịch của Trung Quốc trong quá trình tham gia giao thông tại Móng Cái. Đoàn xe này phải có logo hoặc cờ biểu tượng của đơn vị lữ hành.
Về quy định số lượng xe và khách tham quan, UBND tỉnh Quảng Ninh cho phép tối thiểu 05 xe và tối đa không quá 20 xe, mỗi đoàn/lần. Trong thời gian nhập cảnh du lịch, tổng lượng xe của Trung Quốc tại Việt Nam không quá 100 xe/ngày, xong các xe đợt trước mới được quyền cấp phép xe đợt sau. Các cơ quan Sở GTVT và Hải quan, cùng Biên phòng phải thực hiện việc nhập cảnh theo quy định trên.
Tháng 5/2016, Bộ GTVT đã ban hành văn bản hướng dẫn tỉnh Quảng Ninh về việc thực hiện tổ chức thí điểm xe ô tô du lịch tự lái của cá nhân và doanh nghiệp du lịch, lữ hành hai nước được hoạt động giữa hai TP Đông Hưng (Trung Quốc) và Móng Cái (Quảng Ninh).
Theo quy định của Bộ GTVT xe du lịch tự lái của cư dân Trung Quốc sang Móng Cái phải phải chấp hành Luật Giao thông đường bộ Việt Nam; xe du lịch vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật Việt Nam hoặc các hiệp định, nghị định thư, điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết. Đồng thời, trong thời gian thí điểm, cơ quan chức năng không sử dụng mẫu giấy phép loại B để cấp cho các phương tiện du lịch tự lái.

Vietnamnet

Sunday, November 24, 2019


Dầu cạn kiệt đếm ngược tuổi thọ chế độ


Dầu cạn kiệt đếm ngược tuổi thọ chế độ
Posted on November 13, 2019 by dongsongcu
Phạm Chí Dũng-VOA



Tàu thám hiểm "Hải Dương Địa Chất 8" của Cục Khảo sát Địa chất Trung Quốc (Ảnh: China Geological Survey)

Tàu thám hiểm “Hải Dương Địa Chất 8” của Cục Khảo sát Địa chất Trung Quốc (Ảnh: China Geological Survey)
Đến lúc này và dù chẳng muốn chút nào, cơ quan phụ trách về nguồn tài nguyên thiên nhiên gần như duy nhất để nuôi đảng – dầu khí – là Bộ Công thương vẫn phải hô hoán cảnh báo về mối nguy hiểm cạn kiệt kiệt dầu đang rất cận kề.

Cạn kiệt

Trong 10 tháng đầu của năm 2019, sản lượng khai thác khí đốt thiên nhiên ước đạt 8,6 tỷ m3, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, nhưng sản lượng khai thác dầu thô ước chỉ đạt 11,1 triệu tấn, giảm 5,6% so với cùng kỳ năm 2018. Hoạt động khai thác dầu ở các mỏ chủ lực trong năm 2019 đang trong giai đoạn suy kiệt, sản lượng giảm mạnh, các mỏ mới phát hiện đều khá nhỏ, cận biên, điều kiện phát triển, vận hành phức tạp, chi phí cao… – bản báo cáo mới nhất của Bộ Công Thương tại kỳ họp quốc hội tháng 10 – 11 năm 2019 thừa nhận.

Kết quả khai thác khá thất vọng trên là chuỗi tiếp nối của hai năm 2017 và năm 2018 khi hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam bị Trung Quốc gây sức ép tại mỏ Cá Rồng Đỏ ở Bãi Tư Chính, mỏ Lan Đỏ và cả ở mỏ Cá Voi Xanh mà đã khiến Bộ Chính trị Việt Nam mất ăn ngay trên ‘vùng biển chủ quyền không tranh cãi’ của mình.

Đến lúc này, cấp độ hô hoán đã được chuyển từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam – PVN) lên bộ chủ quản, mà chẳng mấy chốc sẽ chiếm phần nổi bật trong báo cáo kêu than của Chính phủ.

Vậy thực trạng nguồn trữ lượng mới thì sao?

Chỉ chiếm 1/6 sản lượng đang khai thác!

Những năm tới sẽ là một thách thức khủng khiếp: làm sao đảng và PVN tìm ra được nguồn trữ lượng dầu khí mới ở Biển Đông để thay thế cho những mỏ sắp biến thành dĩ vãng và để ngân sách của đảng lẫn đảng khỏi chết theo?

Ngay trước mắt là một mất cân đối quá lớn đối với ‘khoa học khai thác dầu khí’: năm 2017, sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn, nhưng phần tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng chỉ là 4 triệu tấn, tức trữ lượng mới chỉ chiếm 1/6 sản lượng đang khai thác. Nếu tình trạng mất cân đối giữa tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng và khai thác vẫn tiếp diễn như hiện nay thì chỉ vài năm nữa, sản lượng khai thác dầu khí của PVN sẽ chỉ còn 1/3 sản lượng so với hiện thời.

Vào đầu năm 2017, một báo cáo của PVN đã thừa nhận rằng gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2017 đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra: mục tiêu đề ra trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) nhưng trong hai năm 2016 và 2017 PVN đều không hoàn thành khi đạt thấp hơn nhiều (năm 2016 đạt 16,66 triệu tấn quy dầu và năm 2017 đạt 4,0 triệu tấn quy dầu). Hầu hết các mỏ đều đã khai thác trong thời gian dài và đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lượng tự nhiên hàng năm từ 15% tới trên 30%.

2017 cũng là năm gia tăng trữ lượng dầu khí thấp nhất từ trước đến nay, chỉ đạt 4 triệu tấn dầu, thấp nhất lịch sử. Một quan chức của PVN là Tổng giám đốc Nguyễn Vũ Trường Sơn phải thừa nhận: “trước đây hàng năm, PVN khoan 30-40 giếng thăm dò, chi phí tốn từ 2-2,5 tỷ USD, gia tăng được 35-40 triệu tấn quy dầu. Thế nhưng, từ 2015 trở lại đây, đầu tư của ta và nước ngoài chỉ đâu đó 400-500 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò, giảm 5 lần so với trước”.

Với tình trạng trữ lượng dầu cạn kiệt nhanh trong khi quá khó để tìm ra nguồn trữ lượng mới, có thể hình dung là vào năm 2021, ngân sách chế độ sẽ mất hẳn số thu hàng trăm ngàn tỷ đồng từ PVN mà do đó sẽ ‘kiến tạo’ một lỗ thủng toang hoác không lấy gì bù trám được.

Bạch Hổ cũng sắp ‘chết’

Trước đó vào những ngày đầu năm mới 2019, PVN đã mang lại một thất vọng tím tái cho các cấp trên của nó khi thông báo rằng căng thẳng ở Biển Đông sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến hoạt động thăm dò dầu khí của Việt Nam trong năm nay. Cụ thể, PVN dự tính sẽ khai thác 12,37 tấn dầu thô trong năm nay, giảm 11,45% so với năm ngoái.

Tỷ lệ 11,45% thậm chí còn thấp hơn mức tiết giảm dự kiến 10% mỗi năm của PVN vào năm 2018.

Còn trước đó nữa, vào tháng 11 năm 2018 PVN lần đầu tiên cho biết với trữ lượng gia tăng quá thấp khiến từ nay đến năm 2025, sản lượng khai thác dầu sẽ giảm đều đặn mỗi năm 10% – tương đương với hơn 2 triệu tấn.

Vào năm 2017, sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn. Nhưng với đà ‘suy giảm tự nhiên’ và với mức giảm bắt buộc hơn 2 triệu tấn/năm, đến năm 2025 sản lượng khai thác quy dầu sẽ cao lắm là 10 triệu tấn/năm. Còn nếu trong giai đoạn 2019 – 2015 mà PVN phải chịu sức ép quá mạnh từ Chính phủ và Bộ Chính trị đảng để phải giữ nguyên hoặc thậm chí gia tăng sản lượng khai thác dầu khí nhằm bù đắp cho một nền ngân sách mau chóng cạn kiệt, đặc biệt là gần như cạn hoàn toàn các nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ nước ngoài và chi xài cho công tác ăn tiêu trong đảng, đến năm 2025 PVN sẽ có thể chẳng còn dầu để khai thác nữa.

Những thông tin trên là chuỗi tiếp nối logic với một thông tin từ ông Từ Thành Nghĩa – Tổng giám đốc Vietsovpetro – vào đầu tháng 2/2018 về “Móng mỏ Bạch Hổ còn quanh quẩn 10 triệu tấn, tối đa chỉ khai thác được 4-5 năm nữa thôi”, tại Hội nghị tổng kết năm 2017 của PVN.

Điều đó có nghĩa là ngay cả mỏ Bạch Hổ – cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của PVN từ xưa đến nay – đã vào giai đoạn suy kiệt.

Vào năm 2021 hoặc 2022 khi mỏ Bạch Hổ trở thành ‘mỏ chết’, PVN sẽ phải dựa hoàn toàn vào 40% sản lượng còn lại, với điều kiện trữ lượng của những mỏ dầu còn lại vẫn còn mà không suy kiệt hẳn như Bạch Hổ.

Đếm ngược!

Năm 2020 sắp hiện ra với sắc màu tê tái dành cho nền ngân sách thiếu hụt ngoại tệ trầm trọng của Việt Nam.

Tương lai đen tối trên đang hiển hiện trong bối cảnh hiện thời các nguồn ngoại tệ mạnh từ viện trợ không hoàn lại, viện trợ ODA và cả nguồn kiều hối của ‘khúc ruột ngàn dặm’ đều khá bi đát.

Từ năm 2014, chính thể Việt Nam đã không còn nhận được nguồn vốn ODA đáng kể nào, còn từ năm 2018 đã không còn ODA ưu đãi. Trong khi đó, lượng kiều hối gửi về Việt Nam vào năm 2017 và 2018 có thể sụt giảm đến phân nửa so với mức đỉnh 13,5 tỷ USD vào năm 2015…

Trong khi đó, tốc độ bóp hầu bóp cổ dân chúng thông qua thành tích ‘thu ngân sách năm sau cao hơn năm trước’ và được giới quan chức Việt Nam tự sướng bằng tính từ ‘đáng khích lệ’ sẽ khó lòng gia tăng hơn nữa trong những năm tới.

Tại kỳ họp quốc hội tháng 10 – 11 năm 2019, một sự thật mà giới đại biểu ‘nghị gật’ phải thừa nhận là cơ cấu thu chưa bền vững do những khoản thu từ dầu khí và tiền sử dụng đất bị giảm mạnh, kể cả tại ‘con bò sữa’ TP.HCM. Đặc biệt, thu từ 3 khối doanh nghiệp đều không đạt kế hoạch.

Cũng trong khi đó, nợ công Việt Nam đang khốn quẫn ghê gớm.

Hiện thời, nợ nước ngoài của chính phủ – được công bố chính thức – đã vượt quá 100 tỷ USD. Còn nợ nước ngoài của khối doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp nhà nước, cũng hơn 100 tỷ USD. Nếu tính cả phần nợ vay trong nước, tổng nợ công vào thời điểm năm 2019 có thể xấp xỉ 500 tỷ USD, tức gấp hơn hai lần GDP mỗi năm của Việt Nam
(gần 500 tỷ USD bao gồm nợ công Việt Nam đã được xác định là 431 tỷ USD vào năm 2016, cộng với nợ tăng thêm mỗi năm khoảng 20 tỷ USD từ năm 2017 đến nay).
Thực tế sống sượng và quá nguy cấp này là hoàn toàn phản ngược với lối báo cáo ‘nợ công vẫn dưới ngưỡng nguy hiểm 65% GDP’ của Chính phủ Việt Nam.

Nổi lên trên bức tranh khốn quẫn ấy, dầu thô – nguồn tài nguyên gần như duy nhất để nuôi đảng – đang biến thành kim đồng hồ đếm ngược tuổi thọ của chế độ độc tài ở Việt Nam theo đúng quy luật của Mác ‘kinh tế quyết định chính trị’.

Nhưng những năm tuổi còn lại ấy thậm chí còn khó có thể trôi dạt và ăn bám như kế hoạch giảm dần sản lượng dầu khai thác của PVN, với lý do là khi PVN lên kế hoạch này thì chưa xảy ra vụ Trung Quốc quyết liệt cho tàu khống chế khu vực Bãi Tư Chính và đòi Việt Nam phải ‘cùng hợp tác khai thác dầu khí’ – mà về thực chất là ép Bộ Chính trị ‘đảng em’ phải mời kẻ cướp vào nhà để chia bôi tài sản với tỷ lệ có thể đến 60% dành cho Bắc Kinh.

Cũng bởi thế, cái kim đồng hồ đếm ngược không biết có còn cơ hội để chạm mốc 2025 hay sẽ ‘deadline’ trước đó.

Saturday, November 23, 2019


Nỗi đau sân bay

Nỗi đau sân bay
Nguyễn Đình Ấm


 Những năm gần đây nhiều sân bay ở VN đã và nằm trong kế hoạch di dời ra chỗ khác ngốn những khoản tiền khổng lồ: Sân bay Nha Trang chuyển qua Cam Ranh, sân bay Phú Quốc cũ (SB Dương Đông) chuyển qua Dương Tơ, sân bay Tân Sơn Nhất sẽ chuyển qua Long Thành (Đồng Nai), sân bay Cát Bi (Hải Phòng) sẽ thay bằng sân bay Tiên Lãng, sân bay Cà Mâu cũng có đề nghị chuyển ra chỗ khác…Lý do di chuyển tất cả là “sân bay cũ chật hẹp không phát triển được, bị dân cư bao quanh, ô nhiễm…”…

Một câu hỏi đặt ra: Sân bay là những công trình lớn, vĩnh cửu được các quốc gia chọn địa điểm, quy hoạch rất cẩn thận, kỹ càng cho cả hiện tại và tương lai, trên thế giới rất ít bị thay đổi địa điểm nhưng tại sao ở VN lại diễn ra “cấp tập” như thế? Những sự di dời hối hả ấy có hoàn toàn theo nhu cầu khách quan hay bị cái gì nữa chi phối?

Sân bay Tân Sơn Nhất (TSN) được Pháp xây dựng năm 1930 ở quận Tân Bình, Gò Vấp, Phú Nhuận cách TP hơn 10km (nay là 8 km). Thời chế độ VNCH, lớp ngoài cùng sân bay là đường công vụ tuần tra, phía trong là hàng chục lớp rào kẽm gai, trong cùng là hào sâu, mỗi đoạn có tháp cảnh giới, trong cùng lại có đường tuần tra an ninh khép kín. Theo người đã làm việc ở TSN trước năm 1975 thì tính theo chu vi ngoài cùng TSN rộng không dưới 2.500 ha, diện tính “lõi” sau lớp hào trong cùng hơn 1.250 ha. Với quỹ đất này TSN đáp ứng sự phát triển “vô thời hạn”…

Thế nhưng, từ sau giải phóng, nhất là từ những năm 1987-2008 khi giá đất lên cao, các cơ quan của bộ quốc phòng, ngành HKVN, cư dân phá các lớp rào, “thanh lý” các nhà công vụ, dùng một số ít làm văn phòng, cơ sở SXKD, còn các vi la, những diện tích đất lưu không  cây cổ thụ rộng mênh mông chia cho sĩ quan, cán bộ, dân làm nhà ở, nhà hàng, khách sạn, bán chác…Nhiều sếp bỗng dưng thành triệu phú đôla…Do các cuộc “đại đô thị hóa” với chiêu “phạt cho tồn tại” của chính quyền mà đến nay TSN chỉ còn 1.150 ha. Trong quỹ đất đó khi hàng không dân dụng (HKDD) hàng năm phát triển 2 con số thì chỉ được quản lý, sử dụng 205 ha còn đơn vị không quân hoạt động rất ít thì lại sở hữu tới 545 ha(400 ha khu bay dùng chung). Với 205 ha ấy HKDD TSN chỉ xây được hơn 30 điểm đỗ máy bay nên từ  nhiều năm nay TSN bị quá tải chỗ đỗ, nhiều chuyến bay của VN và nước ngoài đến không còn chỗ đỗ phải bay vòng chờ lãng phí nhiên liệu, ô nhiễm môi trường, uy hiếp an toàn.

Trước năm 1975 do vị trí tối ưu TSN là một trong những HUB (điểm trung chuyển HK) ở đông nam Á, ga HK Đon Muang ở Bangkok (Thái Lan) chỉ như “ga xép”. Sau giải phóng chế độ bao cấp lại bị cấm vận, nền kinh tế VN lụn bại nên TSN  phải nhường chỗ cho Don Muang (nay là Suvarnabhumi). Từ những năm 1990 nền kinh tế hồi phục thị trường TSN phát triển nhanh, đang lấy lại vị trí huy hoàng trước kia nhưng nay lại bị nạn quá tải sân đỗ chặn lại. Theo ông Nguyễn Thành Trung, nguyên P.TGĐ TCTHKVN thì do chỗ đỗ khó khăn nhiều hãng HK nước ngoài đã chuyển căn cứ transit đi Singapore, Hongkong…Rồi đây dù TSN hay Long Thành rộng mở thì họ cũng khó mà quay trở lại. Chiến lược HUB của TSN đang phá sản.


Cuối năm 2007 chính phủ cho TSN  quy hoạch mở rộng sân bay theo hướng tăng thêm 30 ha đất sang phía quân sự nhàn rỗi để làm thêm 30 chỗ đỗ nữa nhưng bên quân sự “không thỏa thuận”. Tại sao đất đai quân sự cũng là của nhà nước, nếu đem làm sân đỗ thì vừa khỏi lãng phí, góp phần phát triển ngành HKVN, đất nước, TPHCM mà khi “vạn nhất” xẩy ra chuyện gì thì có ngay hạ tầng phục vụ chiến đấu…mà sao lại không thực hiện được để TSN dù có nhà ga mới với tổng công suất 20 triệu khách/năm trở thành “cọc cạch”? Chỉ đến khi dự án sân golf do DN quân đội “vì nhân dân quên mình” hình thành trái luật với diện tích 157 ha trong sân bay thì người ta mới vỡ lẽ. Năm 2011 báo chí đăng dồn dập nói lên sự vô lý của sân golf trong sân bay TSN và Gia Lâm nhưng chỉ được vài bữa phải câm bặt để hai sân golf tăng tốc độ thi công “chóng mặt”.

Những ngày gần đây dư luận lại rộ chuyện có nên xây sân bay Long Thành (Đồng Nai) thay cho sân bay Tân Sơn Nhất hay không. Cử tri thành phố HCM, nhiều lão thành tâm huyết yêu cầu  chính phủ không nên xây sân bay LT mà hủy bỏ dự án sân golf rồi mở rộng TSN để tiết kiệm chi phí, giữ  gìn một thương hiệu “vàng” gắn với lịch sử…Tuy nhiên, xem ra những lập luận của  cử tri, những người tâm huyết…bị “lép vế” trước tiếng nói của chủ dự án, bộ GTVT, một số sếp ngành HKVN  (dư luận gọi là “cái loa của các đại gia”?)…Họ đưa ra những con số “tào lao” bịp bợm dư luận. Ví dụ, thổi phồng tốc độ tăng trưởng khách, theo quy hoạch của cục HKVN năm 2010 sân bay TSN rộng 1.150 ha (Theo dư luận ở ngành HKVN, việc đo đạc diện tích TSN chưa thể tin cậy do có sự can thiệp của hai bên HKDD và quân sự, đến nay sân bay này vẫn chưa có quy hoạch chính thức) nhưng khi công khai họ đưa ra nếu mở rộng TSN phải giải phóng mặt bằng 641 ha, tức phải nâng diện tích TSN từ 1.150 ha lên đến 1.791 ha, lớn hơn cả quy hoạch Long Thành (1.688 ha), hoặc không tính 157 ha làm sân golf ở TSN. Do phải giải phóng những 641 ha, tái định cư nên phải chi 16,1 tỷ USD tiền GPMB  nếu mở rộng TSN so với chỉ 0,730 USD nếu chuyển về Long Thành… Bất cứ ai nghe thông tin này cũng phải toát mồ hôi mà ủng hộ Long Thành vì nó quá tiết kiệm! Đặc biệt, đại gia cũng tuyên bố liều lĩnh:
“…các nước Thái Lan, Hàn quốc, Nhật Bản…đều phải xây sân bay ra xa thành phố ít nhất 100km” là hoàn toàn bịp bợm. Thực tế, các nước này chỉ có Hàn Quốc xây sân bay quốc tế Inchon( Hangul) cách Seoul 70 do không tìm đâu ra khu đất bằng phẳng để làm sân bay trong vùng toàn đồi núi ở thủ đô Seoul, còn sân bay quốc tế Tokyo (Haneda) công suất 70 triệu khách/năm của Nhật cũng gần thành phố như TSN…

Như vậy, chỉ cần hủy dự án sân golf  tận dụng cả 1.150 ha hiện có của TSN phục vụ cho hoạt động HK (dân dụng và quân sự) thì sân bay sẽ đáp ứng mọi phát triển ít nhất vài chục năm nữa, dân không phải chi khoản tiền thuế đến hàng chục tỷ USD trong lúc khó khăn.
Sân bay Check Lap Kok của Hongkong có công suất hiện tại 45 triệu khách/năm và có thể phát triển lên 80 triệu cũng chỉ có quỹ đất 12 km2 tức 1.200 ha. Ngược lại,  nếu các đại gia không tính 157 ha làm sân golf vào sân bay thì việc thực hiện ngay dự án chuyển TSN về Long Thành cũng là muộn (vì phải ít nhất 5 năm trong khi TSN đã quá tải sân đỗ từ năm 2005).

Theo nhiều chuyên gia HK thì phương án tối ưu là chuyển căn cứ không quân TSN đến Biên Hòa, “gải tán” sân golf, dành toàn bộ 1.150 ha cho HK dân dụng. Khi ấy sẽ giải quyết được 50%  ô nhiễm môi trường, (máy bay quân sự ồn và khí thải gấp nhiều lần máy bay dân dụng) lại tách được mục tiêu số một khi có chiến tranh ra khỏi thành phố, giải tỏa mọi quá tải cho HKDD…Với phương án này nhà nước chỉ cần bỏ ra chừng 2-3 tỷ USD( thay vì hàng chục tỷ đô chỉ cho riêng Long Thành) là thừa mở mang TSN, trang bị hạ tầng cho Biên Hòa. Dăm bảy chục năm nữa nếu TSN quá tải (rất khó xẩy ra vì tốc độ tăng trưởng khách, hàng của TSN đang chậm lại, hơn nữa, từ 2015 tự do hóa HK ASEAN các hãng HK nước ngoài sẽ được bay thẳng đến hàng chục sân bay quốc tế khác ở VN thì TSN, Nội Bài, Đà Nẵng sẽ càng giảm mức tăng trưởng…) kinh tế nước nhà khấm khá hơn mới chuyển về Long Thành. Khi ấy 1.150 ha đất vàng kia để TPHCM sẽ làm công viên, quảng trường, sân bay  thể thao, cấp cứu HK…Không có lý gì một TP lớn như HCM lại không có những công trình “phổ quát” ấy.

Tuy nhiên, tình hình chắc không thể đảo ngược vì nếu xây Long Thành thì sẽ “nhất cử, lưỡng tiện” cho các đại gia: Người ta vừa có sân golf 157 ha đất “vàng” ngay trong thành phố, “người ta” khác lại được “giải ngân” hàng chục tỷ đô dự án Long Thành, còn nếu ngược lại thì…gần như không có gì! Cách đây cỡ dăm năm ở ngành HKVN đàm tiếu sôi nổi về cuộc “chạy đua vũ trang” quyết liệt giành giật dự án Long Thành của các đại gia. Muốn nhà nước triển khai các dự án thật lớn, thật nhiều tiền để mình làm chủ đầu tư là đặc điểm của họ. Thời gian qua các sân bay Phú Quốc, Cần Thơ, Chu Lai…được đầu tư những khoản tiền khổng lồ để phát triển “mạng sân bay quốc tế” nhưng đã nhiều năm qua ngoài Cam Ranh các “sân bay quốc tế” kia chỉ èo uột ít chuyến bay nội địa…

Càng khó nữa, khi dự án sân golf ở TSN, Gia Lâm vượt qua cả quyết định 1946/ 2009 của thủ tướng: “các dự án sân golf không được sử dụng đất lúa, đất màu và đất quy hoạch xây dựng khu công nghiệp;các khu đô thị, đất rừng…địa điểm quy hoạch sân golf chủ yếu ở vùng trung du, miền núi…”… thì mọi ý kiến cản trở Long Thành vào được tai ai?

Có một câu chuyện như đùa: Thủ tướng yêu cầu Bộ quốc phòng khi nào nhà nước lấy lại đất (sân golf) thì không được yêu cầu bồi thường…”. Ai có thể tin hàng bao nhiêu năm nữa khi cháu chắt nhà đầu tư,lãnh đạo TP HCM, bộ, ngành, chính phủ…nắm quyền thì vẫn còn nhớ và trung thành với lời hứa của cụ, kỵ mình?…Hơn nữa, dân VN đâu cần số tiền “không phải bồi thường” của các đại gia khi cả cửa ngõ HK lớn nhất của quốc gia phải lận đận?

Cũng theo “quy luật” này, sân bay Gia Lâm(SBGL) ở Hà Nội cũng gần như chung số phận như TSN. Do “cái tội” chỉ cách hồ Hoàn Kiếm 10 phút xe, “tấc đất tấc vàng” nên những năm gần đây SBGL bị thu hẹp “không thương tiếc”. Hàng trăm ha đất phía nam sân bay  biến thành nhà xưởng của DN, chia làm nhà ở, bán chác đẩy hàng loạt nhà công vụ đến sát phía nam khu bay. Ở phía bắc một sân golf nhỏ ép đến lề bảo hiểm đường băng, phía nam sân bay là sân golf 117 ha cũng của DN “vì nhân dân quên mình” tiến sát khu bay. Ngoài 75 ha đất quốc phòng, người dân phường Phúc Đồng, Gia Thụy (Q Long Biên) còn phải “hy sinh” 40 ha đất lúa hai vụ màu mỡ cho sân golf này. Do bị lấp hết hồ điều hòa, hệ thống thoát nước bị xâm phạm nên trong khi sân golf hoành tránh hình thành thì hạ tầng sân bay xuống cấp thảm hại. Dường băng, đường lăn thấm nước sụt, lún tứ tung. Chỉ một cơn mưa đường băng biến thành hồ( xem ảnh)…

Năm 2010,2011 ngành HKVN đã thương thảo với bên quân sự để chuyển các chuyến bay nội địa ngắn ở Nội Bài về Gia Lâm thuận tiện cho hành khách giải tỏa sự quá tải cho Nội Bài nhưng  cũng không thành. Một cán bộ TCTHKVN đứng trên tầng cao trụ sở nhìn xuống sân golf sân bay Gia Lâm mênh mông tiến sát đường băng thở dài:

– Nước quân đội mạnh hơn nước VN rồi…

Sân bay Gia Lâm được chính phủ quy hoạch trong mạng sân bay quốc gia đáng lẽ ngày càng phát triển nhưng cũng như với TSN, Bạch Mai, Cát Bi…thì ngược lại do giá trị đất của nó. Tất cả mang một nỗi đau giống như con tê giác chết  vì cái sừng!

Không biết dân ta còn phải bỏ ra bao nhiêu trăm tỷ đô nữa để thay đổi, di dời hàng loạt sân bay cho các đại gia lấy đất vàng?

NĐA

16 phản hồi to “Nỗi đau sân bay”
phamden Says:  
Tháng Mười 18, 2013 lúc 12:08 chiều | Phản hồi
Sua dum san “golf” !

Đinh Thắng Says:             
Tháng Mười 18, 2013 lúc 12:18 chiều | Phản hồi
Bác Nguyễn Đình Ấm ơi! bài viết của bác rất chuẩn xác. Ngẫm ra tôi mới thấy thế này : Từ thời trung cổ xa xưa cho đến thời hiện đại bây giờ, trên khắp thế giới chưa có quân đội một quốc gia nào lại đi buôn bán : Điện thoại; xăng dầu, vật liệu xây dựng, nhà hàng khách sạn, du lịch, sân gôn v.v… lại còn có hẳn một ngân hàng riêng nữa. Có lẽ chỉ có duy nhất ở nước Cs Việt Nam, dưới triều đại của lũ bán nước ác ôn đang đè đầu cưỡi cổ và hút máu dân qua các vụ tham nhũng mỗi năm hàng chục ngàn tỷ đồng mới có cái thứ quân đội như vậy.

Nguyên Hùng Says:         
Tháng Mười 18, 2013 lúc 1:45 chiều | Phản hồi
Chúng nó đã có ý đồ muốn cướp ,phá thì chúng làm bằng mọi giá.Đau thương cho nước Việt tôi.

NỖI ĐAU SÂN BAY (Nguyễn Đình Ấm) | Ngoclinhvugia's Blog Says:
Tháng Mười 18, 2013 lúc 2:13 chiều | Phản hồi
[…] đau sân bay Nguyễn Đình Ấm Tháng Mười 18, 2013 at 11:22 sáng https://badamxoevietnam2.wordpress.com/2013/10/18/noi-dau-san-bay/   Những năm gần đây nhiều sân bay ở VN đã và nằm trong kế hoạch di dời ra […]

Vinh Says:           
Tháng Mười 18, 2013 lúc 4:33 chiều | Phản hồi
Bài viết của bác Nguyễn Đình Ấm rất chuẩn xác! Nhưng, để thõa mãn lòng tham thu lợi ích cá nhân, bọn khốn nạn lâu nay chúng đã và đang đi ngược lại lợi ích của đất nước và nhân dân VN

trọng lú Says:     
Tháng Mười 18, 2013 lúc 8:04 chiều | Phản hồi
Mấy thằng cộng sản bán nguyên cả nước việt nam còn được mà, nhằm nhò gì vài cái sân bay lẻ tẻ

h.anh Says:         
Tháng Mười 18, 2013 lúc 11:40 chiều | Phản hồi
để thấy cộng sản Vn chỉ có phá hoặc xây và phá. Ăn ăn ăn, tham nhũng thối nát chứ chả tốt đẹp gì. Bằng chứng là đời sống, xã hội ngày nay.. Chỉ có đa nguyên đa đảng đất nước ta mới hùng cường được.

nhandanvn Says:              
Tháng Mười 19, 2013 lúc 1:52 sáng | Phản hồi
Còn cái gì chi phối lũ sâu bọ cộng sản ngoài cái”ấy”.

Anhbasam Điểm Tin thứ Bảy, 19-10-2013 | doithoaionline Says:    
Tháng Mười 19, 2013 lúc 4:20 sáng | Phản hồi
[…] Nguyễn Đình Ấm: Nỗi đau sân bay (Bà Đầm […]

***TIN NGÀY 19/10/2013 -Thứ Bảy « ttxcc6 Says:              
Tháng Mười 19, 2013 lúc 5:16 sáng | Phản hồi
[…] Nỗi đau sân bay 18/10/2013 […]

Sâu Chúa Says:  
Tháng Mười 19, 2013 lúc 5:41 sáng | Phản hồi
Cái bác Đình Ấm này bây giờ có vẻ ấm ớ quá. “Có xây mới có cất” chứ. Thời buổi cờ tàn nhộm nhạm, không vẽ ra dự án xây xây, sửa sửa, lấy đâu tiền mua vàng cất trong rương? Cái ghế chỉ theo nhiệm kỳ, không lo thu vén thì về hưu “cạp đất mà ăn” à?
Rõ ấm ớ!

Thứ Bảy, 19-10-2013 – Thử “múa gậy vườn hoang“ về viện Khổng Tử sắp thành lập & Việt Nam đã mất biển và chủ quyền chưa? | Dahanhkhach's Blog Says:        
Tháng Mười 19, 2013 lúc 7:38 sáng | Phản hồi
[…] Nguyễn Đình Ấm: Nỗi đau sân bay (Bà Đầm […]

Anh hai Says:     
Tháng Mười 19, 2013 lúc 2:50 chiều | Phản hồi
Xây sân gôn cạnh sân bay, đứa nào đánh trái banh lọt trúng ổ máy của một chiếc đang cất cánh thì có mà chết chùm!! Đúng là chỉ có ở VN.

NHẬT BÁO BA SÀM : TIN THỨ BẢY 19-10-2013 | Ngoclinhvugia's Blog Says:             
Tháng Mười 19, 2013 lúc 4:11 chiều | Phản hồi
[…] nước không bao gồm doanh nghiệp nhà nước” (Phước béo). – Nguyễn Đình Ấm: Nỗi đau sân bay (Bà Đầm Xòe). – Muốn tiêu tiền ở “trục đường tâm linh” Mỹ Đình-Bái […]

vi dân Says:        
Tháng Hai 28, 2014 lúc 4:12 sáng | Phản hồi
bài viết sâu sắc, rất hay.
Nhưng các Sếp to không đọc – tiêc thay

dungtraco53 Says:           
Tháng Ba 2, 2014 lúc 7:29 sáng | Phản hồi
Chinh phu Việt Nam! Rat so quan doi vineu QD khong ung ho chi co mat dang nhu choi, nen khong dam dung den QD