Cây Cầu Biên Giới
Posted on July 23, 2016 by dongsongcu
https://dongsongcu.wordpress.com/2016/07/23/cay-cau-bien-gioi/
Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn
Tôi đứng ngay tại Ngã Ba Hàm Rồng. Buổi trưa nắng chang chang. Thỉnh thoảng một cơn gío nổi lên cuốn theo những đám bụi đỏ mù trời. Ngừơi tài xế của hãng du lịch chạy đến bên tôi thắc mắc:
– Anh kiếm cái gì thế ? con đường trước mặt đi về hướng Phú Nhơn mãi đến Banmêthuột, bên trái là ngõ về quận lỵ Phú Thiện và tỉnh Phú Bổn, còn đằng sau là con đường mình mới từ Pleiku ra đây. Anh muốn đi đâu thì cứ cho tôi biết, tôi sẽ đưa anh đến nơi đến chốn.
Tôi thầm nghĩ:
– Dù đã lâu lắm rồi nhưng làm sao quên được. Mình đã chôn vùi một đoạn đời hoa bướm nơi rừng núi này. Quang cảnh vẫn vậy, chỉ có tiêu điều hơn mà thôi. Con đường trải nhựa có nhiều ổ gà hơn xưa, vắng vẻ hơn xưa, hàng quán xơ xác hơn.
Tôi trả lời bâng quơ:
– Tôi đang chụp hình.
– Tôi đâu thấy anh mang máy hình ?
– Ồ, chụp hình trong đầu ấy mà.
Nguời tài xế há hốc mồm ra ngạc nhiên, anh ta nói lẩm bẩm trong miệng nhưng đủ cho tôi nghe rõ:
– Mấy ông nội Việt kiều thật là lẩm cẩm.
Tôi leo lên xe và hối người tài xế chạy về phía quận Phú Nhơn. Chiếc Xe mướn của hãng du lịch tương đối còn mới, lồng lộn lao về phía trước, lúc nghiêng qua trái, lúc lách qua phải để tránh những khúc đường bể chưa được sưả chữa. Mà có lẽ sẽ chẳng bao giờ được sửa chữa nữa. Hàng trăm thứ chuyện quan trọng hơn người ta chẳng thèm để ý tới xá gì một con đường xa xôi hẻo lánh này. Để mặc tài xế đánh vật với chiếc xe và con đường, tôi thả hồn chìm về dĩ vãng …
&
Ngày ấy đã xa lắm rồi.
Tôi mới đến vùng này,là một Thiếu Úy trẻ măng vừa đổi về đơn vị mới thành lập. Tiểu Đoàn mới, từ sĩ quan đến binh lính, hầu hết là những thành phần khó sài từ các đơn vị khác gởi về. Dĩ nhiên tôi cũng ở trong thành phần bất hảo đó. Từ miền biển bị đưa lên miền núi và chỉ huy một đám quân gồm đủ mọi thành phần. Tôi còn đang buớc những bước đi chập chững của nghề chỉ huy thì phải tung ra chiến trường. Ngày ấy, cũng trên con lộ này, tôi dẫn hai con Gà Cồ Đại Pháo 105 ly để yểm trợ cuộc hành quân trực thăng vận tái chiếm quận lỵ Phú Nhơn mà Bắc Quân vừa mới tràn ngập đêm hôm trước.
Ngã ba này bình thường chỉ có vài quán cóc lèo tèo để bán đồ ăn thức uống cho xe đò chạy đường Pleiku – Phú Bổn hay Pleiku – Banmêthuot. Hôm đó dân chạy loạn từ Phú Nhơn ra rất đông, từ những làng Thượng, hoặc mấy khu dinh điền và dân làm ăn buôn bán chung quanh quận lỵ. Dân chúng thấy lính đi tái chiếm quận, họ rất mừng rỡ, người hỏi thăm, người cho quà bánh. Đổi lại đám lính tặng lại dân chúng thuốc lá và những đồ hộp Quân Tiếp Vụ. Dân ở quận nhỏ xa xôi cũng nghèo khổ như lính vậy thôi.
Từ sáng sớm, lo đốc thúc tải đạn, sửa soạn xe cộ, đại bác, hàng trăm thứ phải làm cho một cuộc trực thăng vận, cho nên bao tử còn trống rỗng. Phi cơ câu súng đại bác phải xin từ căn cứ Mỹ Ớ Quy Nhơn lên, nên chờ cũng còn lâu. Tôi rủ anh chàng Chuẩn Uý Trung Đội Phó kiêm Đề Lô vào quán bên đường kiếm cái gì lót bụng. Dân quận lỵ bu lại hỏi thăm tình hình, chừng nào có thể về quận được ? Đánh nhau có lâu không ? Toàn những câu hỏi mà chỉ có Trời mới trả lời được.
– Mấy anh ấy đi giải toả quận Phú Nhơn phải không ông chủ.
– Tôi đoán vậy, cô thử hỏi mấy ổng coi.
Tôi quay lại, người vừa hỏi là một thiếu nữ độ đôi mươi, nàng mặc chiếc áo dài trắng học trò đang hỏi thăm người chủ quán, tôi hỏi lại cô gái:
– Sao cô đoán tụi này đi giải toả Phú Nhơn ?
– Em mới từ Tuy Hòa lên Pleiku hôm qua. Sáng nay đáp xe đò vô quận, không ngờ kẹt từ sáng đến giờ.
– Cô cũng ở quận Phú Nhơn sao ?
– Em dạy Ớ trường tiểu học Phú Nhơn, còn nhà em ở Tuy Hòa.
– Cô nên về Pleiku kiếm chỗ ngủ đỡ qua đêm nay.
– Em không có ai quen Ớ Pleiku cả, vả lại em nóng lòng không biết nhà cửa, trường ốc ra sao ?
– Cô có lo lắng thì cũng chẳng làm gì được, tốt hơn hết là kiếm chỗ nào nghỉ đỡ qua đêm nay, chờ giải toả xong mới về được.
– Đám học trò của em chạy ra đây cũng đông lắm, em không thể bỏ chúng được. À này các anh đừng pháo vào trường học nghe.
Tôi vỗ vai Châu Đề Lô vừa cười vừa nói:
– Cái đó cô phải nhờ ông Châu mới được, ổng chỉ đâu là nơi đó thành bình địa.
Châu vội lên tiếng:
– Trường của cô giáo tụi này không dám đụng tới.
Tôi chế diễu Châu:
– Bạn hứa một mình chứ không có tôi can dự trong đó đâu nghe. À nãy giờ mình nói chuyện mà quên giới thiệu. Tôi tên Lập, anh bạn này tên Châu. Thưa qúy danh cô là …
– Em tên là Quỳnh Hoa, các anh hứa là phải giữ lời đó à nghe !
Tôi chọc ghẹo Quỳnh Hoa:
– Nếu tụi này giữ lời hứa thì Quỳnh Hoa phải đền cái gì mới được chứ ?
Tôi nhìn người con gái nước da trắng hồng, mịn màng như trứng gà bóc, đôi môi đỏ như cánh bích đào, cặp mắt to đen láy trông thật thông minh lanh lẹ, mái tóc thề phủ xoã ngang lưng, nụ cười tươi như hoa với hàm răng đều đặn như những hạt bắp vừa đủ lớn. Nhìn Quỳnh Hoa đứng giữa đám học trò nhà quê lem luốc bẩn thỉu, tôi có cảm tưởng nàng là bà tiên giáng trần, đang cầm cây đũa thần gõ trên đầu đám chúng sinh đầy đau khổ. Nàng rất bạo dạn tuy hơi lo lắng, nhưng không có cái e lệ như những cô gái xứ kinh kỳ. Tôi tự nhủ:
– Bông hoa vương giả này sao lại mọc ở chốn rừng hoang mông quạnh này nhỉ ?
Quỳnh Hoa thấy tôi nhìn cô chăm chú, có vẻ mắc cỡ đôi má càng hồng hào thêm, còn đang phân vân chưa biết trả lời ra sao, Châu vội đề nghị:
– Thôi bữa nào giải toả xong, đãi tụi này một bữa cơm nhà quê được không Qùynh Hoa ?
– Em nấu ăn dở lắm, nhưng em sẽ đãi các anh một chầu bún bò Huế, được không ?
Tôi làm bộ nuốt nước miếng:
– Ôi chao, chưa đánh mùi mà đã thèm nhỏ dãi rồi.Có tiếng trực thăng từ xa vọng lại. Tôi từ giã Quỳnh Hoa rồi vội vã đốc thúc anh em binh lính để cuộc di chuyển được mau chóng. Bình, anh chàng tài xế xe jeep của tôi chạy lại hỏi:
– Mình cần về hậu cứ lấy thêm gì nữa không Ông Thầy ?
– Chắc đủ rồi, vả lại cũng không còn kịp nữa.
Tôi móc túi đưa cho Bình một ít tiền lẻ và nói:
– Em vào trong quán mua vài gói mì và một hộp trà, tối nay mình ăn mừng chiến thắng.
– Bình cầm tiền, nheo mắt chọc tôi:
– Cái cô hồi nãy coi bộ chịu đèn Ông Thày lắm rồi đó nghe.
Tôi thấy thích thú trong lòng nhưng cũng làm bộ chống chế:
– Con gái đời nay đẩy đưa lắm khó mà lường được.
Trời bắt đầu đổ mưa lâm râm khi trực thăng vừa bốc hai khẩu đại bác. Tôi nhìn bầu trời đen nghịt mà aí ngại cho những giờ phút nguy hiểm gian lao sắp tới bởi vì tôi vừa phải chiến đấu với địch quân vừa phải yểm trợ cho quân bạn ngay từ phút đầu trong thời tiết mưa gío bão bùng này. Những cơn mưa trên miền núi thường dai dẳng và mang theo gío lạnh thấm đến tận xương tủy của những người lính Pháo Thủ, vừa thiếu ăn vừa phải làm việc cực nhọc. Tôi thầm hỏi liệu đêm nay trực thăng có kịp đổ quân để bảo vệ hai con gà cồ của mình không ?
Hai khẩu đại bác cùng với 4 túi đạn 105 li và chiếc xe Jeep được thả xuống một ngọn đồi trọc. Dưới cơn mưa tầm tã, đất đỏ lầy lội, đám pháo thủ thoăn thoắt làm việc: Hì hục đẩy hai khẩu pháo lại gần nhau, khuân vác đạn dược, dựng cây truyền tin, nhắm hướng súng. Chỉ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, Những trái đạn đầu tiên đã được gởi đi liên tục để dọn bãi đáp cho hai tiểu đoàn Bộ Binh đổ bộ xuống mục tiêu.
Trận tái chiếm quận Phú Nhơn hôm đó đã thành công hoàn toàn nhưng Châu Đề Lô đã bị thương nặng, một mảnh đạn B40 của địch quân đã chọc một lỗ lủng lớn ở bụng của hắn. Tóan Pháo Binh được di chuyển về phía sau quận hành chánh để sãn sàng yểm trợ cho lực lượng bảo vệ quận.
Một buổi sáng, sau khi sửa sang tuyến phòng thủ tạm ổn định, tôi ghé thăm Quỳnh Hoa. Ngôi trường chỉ bị thiệt hại nhẹ. Anh em quân nhân trong quận đang gíup tay sửa sang những chỗ bị tàn phá. Tôi đến bên lớp học của Qùynh Hoa, nàng đang say sưa tập hát cho các em nhỏ. Có tiếng một em bé báo động:
– Thưa cô có Ông Lính tới kiếm.
Nàng quay lại, gật đầu chào. Tôi ướm thử xem nàng còn nhận ra tôi không:
– Ông Lính kính chào Cô Giáo, Cô Gíao còn nhớ Ông Lính này không ?
Nàng không thể nhịn cười được lối diễu cợt của tôi, nhưng cũng không chịu thua:
– Ông Lính đi đâu mà lạc vô đây ?
– Ông Lính đi lạc vào Thiên Thai đó ạ, không biết Tiên Nữ có cho Ông Lính xem rừng Đào Tiên không.
– Ông Lính tỉnh lại đi, đây là chốn phàm tục, đâu có nàng Tiên nào đâu.
– Chứ Quỳnh Hoa không phải là Tiên sao?
Nàng nghe tôi khen không khỏi e thẹn:
– Anh Lập làm Qùynh Hoa mắc cỡ quá hà! Người ta xấu như ma mà so sánh với Tiên, anh có mơ ngủ không đấy? Anh Châu có khỏe không anh Lập?
– Châu bị thương nặng đang nằm Ớ quân Y viện Pleiku.
– Trời ơi, có nguy hiểm lắm không anh?
Thấy mặt Qùynh Hoa biến sắc, tôi thấy hơi ganh với bạn mình, nhưng vội trấn an:
– Chắc không đến nỗi nào, nhưng phải nằm nhà thương một thời gian.
– Hôm nào anh có đi thăm anh Châu cho em đi theo với nghe.
Tôi tự nhủ thầm sao nàng dễ xúc cảm như vậy nên hứa đại cho xong chuyện:
– Cuối tuần tôi phải về hậu cứ nhân tiện ghé đón Quỳnh Hoa đi thăm Ông Châu luôn thể, cô có chịu không ?
– Gia đình ảnh đã biết chưa vậy anh Lập ?
– Gia đình ảnh Ớ Pleiku đã được thông báo rồi.
Tôi hỏi thăm qua loa về trường ốc và gia cảnh của nàng rồi vội vã cáo lui, hẹn gặp lại sáng thứ Bảy. Qùynh Hoa hiện Ớ trọ tại nhà bà Hiệu Trưởng, một người bạn cũ của gia đình nàng. Chồng Bà cũng là một cựu quân nhân giải ngũ, có tiệm tạp hóa ngoài chợ.
Sáng thứ Bảy, Tôi cho tập họp Trung Đội, giao doanh trại cho Ông Thượng Sĩ Thường Vụ rồi hối đám quân xa chuẩn bị xe cộ về hậu cứ lãnh lương thực và đạn được. Tôi gọi Bình vào văn phòng rồi dặn:
– Bình à, coi lại xe cộ, xăng dầu đầy đủ, bữa nay mình về hậu cứ đồng thời ghé thăm ông Châu luôn thể. À hôm nay có một người bạn xin qúa giang nữa nghe.
– Ai vậy Ông Thầy ?
– Cô giáo bữa mình gặp ngoài Ngã BA Hàm Rồng đó nhớ không em.
– Ồ, vậy em phải rửa xe cho thật sạch mới được.
– Lính tác chiến mà chú mày làm như lính thành phố không bằng, không sợ tụi hậu cứ nó cười sao ?
– Sức mấy mà tụi nó dám cười Thầy Trò mình.
Tôi ghé lại nhà Quỳnh Hoa, nàng đã chờ sẵn, vẫn chiếc áo dài trắng hôm nào. Nét mặt vui vẻ, nụ cười tươi như hoa trông mới duyên dáng làm sao chứ ! Nàng bước ra cửa đón tôi:
– Chào anh, mời anh vào trong nhà uống miếng nước đã.
– Chào cô Qùynh Hoa, cám ơn cô để khi khác, thôi chúng ta lên đường kẻo trễ.
Đến hậu cứ, tôi nhận tiếp liệu rồi hẹn tất cả tập trung lúc 2 gìơ chiều để trở ra Phú Nhơn. Tôi chở Quỳnh Hoa vào bệnh viện. Châu vẫn còn thiếp trong giấc ngủ mê, khuôn mặt trắng bệch, hơi thở yếu ớt. Tôi có cảm tưởng thần chết đang lảng vảng đâu đây. Bà mẹ của Châu nhìn thấy chúng tôi thì không cầm nổi nước mắt. Bà bắt đầu thút thít khóc. Tôi tự hỏi trong những ngày qua người mẹ đau khổ này đã đổ bao nhiêu nước mắt cho đứa con yêu dấu của mình. Chiến tranh thật tàn nhẫn ! Nó như một con qủy luôn luôn cười cợt trên sự đau khổ của con người. Nó lấy xác chết làm chiến lợi phẩm. Qùynh Hoa nhìn thấy Châu, bỗng hai hàng lệ tuôn trào. Tôi đưa chiếc khăn tay, nàng cầm lấy, che lên mắt và đi vội ra ngoài. Tôi không ngờ nàng qúa thương tâm như vậy đối với một người bạn mới quen. Tôi an uỉ Bà Mẹ của Châu mấy câu rồi vội vã đi tìm Qùynh Hoa. Nhìn nàng đứng dựa chiếc cột ngoài hành lang bệnh viện, đôi vai rung lên từng hồi, có lẽ nàng đã qúa xúc cảm. Tôi chẳng biết làm sao để an ủi nàng. Miệng lưỡi cứng đơ, chân tay thừa thãi, tôi lặng lẽ đến bên nàng, mắt tôi cũng bắt đầu nhòe lệ, tôi ôm lấy đôi vai bé bỏng của nàng. Qùynh Hoa quay mặt lại và úp mặt vào vai tôi khóc nức nở như một đứa con nít. Có lẽ những đau khổ thầm kín lâu nay được dịp tuôn ra đi theo dòng nước mắt. Tôi để mặc nàng khóc cho đã đời. Một vài người đi ngang dòm chúng tôi với đôi mắt dò hỏi rồi bỏ đi. Chuyện khóc lóc có lẽ qúa bình thường ở đây. Nàng khóc một lúc rồi bắt đầu im lặng, chỉ còn những tiếng nấc nghẹn ngào. Tôi an uỉ nàng:
– Em đừng khóc nữa, anh Châu chắc không đến nỗi nào đâu, Mẹ ảnh nói Bác Sĩ cho hay ảnh đã qua cơn hiểm nghèo rồi chỉ chờ bình phục thôi.
Nàng thì thầm bên tai tôi:
– Em nhớ Ba em hồi đó, cũng nằm ở Bệnh Viện này, trong cơn hấp hối, nên không cầm nổi nước mắt, xin anh tha lỗi cho em.
– Anh xin lỗi em, không ngờ cuộc thăm viếng này đã gợi cho em những đau đớn như vậy.
– Anh đừng nói vậy, anh không có lỗi gì cả, chỉ vì em tủi thân đó thôi.
Khi đã tỉnh trí, nhìn thấy một bên vai áo tôi ướt đẫm nước mắt, có lẽ thấy hơi ngượng ngùng nên đẩy nhẹ tôi ra và lí nhí mấy lời xin lỗi. Tôi vội dìu nàng ra xe và rủ ra ngoài phố kiếm ăn. Tôi dẫn Quỳnh Hoa vào quán như một đôi tình nhân gắn bó bên nhau. Những cặp mắt nhìn soi bói của đám thực khách mà qúa nửa là lính tráng khiến nàng hơi bối rối. Tôi nhìn nàng với đôi mắt nồng nàn, thầm cám ơn Thượng Đế đã cho tôi có dịp làm quen với người con gái dễ thương và thùy mỵ như vậy. Sự hiện diện của nàng trong đời sống khiến tôi thấy những gánh nặng trên vai nhẹ nhàng hơn. Qùynh Hoa là một dòng suối ngọt, một bóng mát, một hy vọng, một nơi yên nghỉ êm đềm cho linh hồn thể xác mệt mỏi của tôi trong cuộc chiến tàn nhẫn đầy máu và nước mắt này. Tôi vẫn cảm thấy rằng sau nét mặt vô tư ngây thơ, Quỳnh Hoa có một sức thu hút kỳ lạ, giống như một vùng đất mới chứa đầy những bí mật quyến rũ đối với những nhà thám hiểm. Đúng vậy, nàng chính là sự thiêng liêng kỳ bí, một vườn Địa Đàng cho riêng tôi. Tôi vẫn chưa hiểu tại sao nàng qúa thương tâm khi thăm Châu trong bệnh viện nên muốn tìm hiểu thêm:
– Qùynh Hoa ở Phú Nhơn lâu chưa ?
– Độ gần một năm thôi, em ra trường sư phạm cấp tốc rồi xin đổi về đấy ngay.
– Sao em không xin dạy ở gần nhà có phải tiện hơn không ?
– Ngày xưa, Ba em làm Quận Trưởng Phú Nhơn. Người đã bỏ cả cuộc đời để xây dựng cái quận đèo heo hút gío này. Thời Đệ Nhất Cộng Hòa, dân chúng từ miền ven biển và từ ngòai Bắc di cư lên đây lập nghiệp, đã được chính quyền tận tình giúp đỡ. Nhưng rồi trong một cuộc đi thăm đồn điền của một xã phía Tây Quận Lỵ, Ba em đã lọt vào ổ phục kích và bị sát hại. Em lớn lên, muốn tiếp nối cái hoài bão của Ba em là nâng cao dân trí để họ có thể hiểu được ý nghĩa của sự tự do, dân chủ, công bình và lẽ phải.
Tôi thầm nghĩ những danh từ tự do, dân chủ thật qúa mơ hồ đối với những người lính tác chiến, với đám dân quê nghèo thất học ở đây. Gia đình, vợ con, miếng cơm manh áo, mạng sống có lẽ gần gũi hơn. Tôi thấy vừa kính nể vừa thương hại người con gái mới lớn mang trong lòng một hoài bão qúa lý tưởng, qúa to lớn. Nàng đúng là một Tiên Nữ mà Thượng Đế đã gởi xuống cõi trần đầy khổ đau này.
Sau nhều lần đi thăm Châu, chúng tôi thấy gần gũi nhau hơn. Tôi tìm thấy ở nàng một niềm vui, một ước mơ, một mái ấm gia đình cho tương lai. Vùng đất hoang vu này trở nên tươi mát đáng yêu bởi vì chỗ nào cũng thấy đoá Hoa Quỳnh nở rộn ràng.
Chúng tôi đã yêu nhau, có núi rừng và con sông nhỏ chảy qua quận lỵ làm chứng. Con sông thật hiền hoà và dễ thương như người tôi yêu. Bên bờ sông những hàng cây Phượng Vĩ nở đỏ rực mỗi mùa hè. Mùa mưa nước phù xa đỏ ửng từ trên ngàn chảy cuồn cuộn xuống ngập gần hết cây cầu sắt nhỏ bắc qua sông. Cây cầu nhỏ sơ sài có vài nhịp, bề ngang chỉ đủ cho một chiếc xe đò qua lại. Mùa nắng, nước cạn trơ những bãi cát trắng tinh. Người ta đào cát thành những vũng nước trong, gánh về để uống. Giữa lòng sông nước trong vắt nhìn thấy cát và sỏi tận dưới đáy, nước chảy lững lờ. Mấy chàng Pháo Thủ thường ra tắm sông để được chiêm ngưỡng những nàng thôn nữ cao nguyên ngực no tròn và rất tự nhiên. Tôi yêu núi rừng Cao Nguyên, mỗi buổi sáng thức dậy đứng trên đồi nhìn chung quanh chỉ thấy một màu xanh rì, mênh mông như biển cả. Tôi yêu con sông bé nhỏ, tôi yêu cây cầu sắt cũ kỹ đưa người qua sông, tôi yêu hàng cây Phượng Vĩ học trò, tôi yêu sân trường tiểu học Phú Nhơn, tôi yêu con đường nhựa bé bỏng chạy qua quận lỵ và băng qua núi rừng Cao Nguyên. Tôi yêu và yêu rất nhiều, bởi vì ở đâu cũng thấy hình bóng của nàng. Tôi yêu lắm những buổi chiều hai đứa dẫn nhau ra bờ sông, lang thang dưới những hàng cây xanh um, hoặc ngồi trên thành cầu nhìn dòng nước hững hờ trôi. Nàng ngồi bên tôi, đong đưa hai hàng chân trắng muốt, cười nói vô tư như một Thiên Thần. Trời Đất, Vũ Trụ, Thời Gian như ngừng hẳn, ôi đẹp đẽ và thanh bình đất nước tôi!
Ở đó, bấy giờ, không nghe tiếng súng nổ, không nghe tiếng gầm gừ của máy bay phản lực, không gian hoàn toàn yên tĩnh.
Chúng tôi đã dệt những giấc mộng tương lai đơn sơ và êm đềm.
– Qùynh Hoa ơi, mai này chiến tranh chấm dứt, anh sẽ cất một căn nhà bên bờ sông này, em sẽ tiếp tục dạy học, còn anh sẽ biến vùng đất màu mỡ này thành một đồn điền trù phú, em có chịu không ?
– Anh trồng cho em một vườn trái cây mít , ổi, xoài, đu đủ, mảng cầu nghe anh.
– Ừ, anh sẽ trồng bất cứ cây gì em muốn.
– Anh hứa thương em và chiều chuộng em như ngày xưa Ba yêu thương và chiều chuộng em nghe.
– Anh hứa.
– Anh đừng bỏ em, như Ba đã bỏ em một mình, em sợ lắm.
– Không, anh sẽ không bỏ em một mình.
– Nghe anh nói thơ mộng và sung sướng qúa, cám ơn Trời Phật đã cho em gặp anh. Có lẽ Ba đã run rủi em gặp anh đó. Lập ơi em thương anh lắm, anh biết không?
– Sao em thương anh nhiều dữ vậy ?
– Không biết nữa, có lẽ em thấy anh giống Ba em. Anh chiều chuộng em, anh là người lớn, bao dung, đại lượng, biết nhiều, hiểu nhiều. Anh biết không, hôm em gặp anh đi hành quân, em thấy anh oai hùng qúa, giống như Ba em ngày xưa. Mấy Ông Lính thương anh lắm phải không ?
– Không mấy ông ấy ghét anh lắm.
– Cái mặt xạo, ai mà ghét anh. Anh nhiều đào lắm phải không ? nói cho em nghe đi.
– Có mình em thương anh thôi, thiệt đó.
Tôi ngồi bên nàng, uống từng giọt tình yêu ngọt ngào, nghe trái tìm mình đập từng điệu nhạc run rảy trên lối vào Thiên Đường chỉ có hai đứa chúng tôi. Nàng đã dạy cho tôi biết mơ mộng, thấy đời đáng yêu hơn, những thứ đó tôi đã đánh mất từ khi mới lớn, từ khi bước chân vào quân ngũ, tôi vẫn nghĩ tuổi trẻ của tôi đang đi vào ngõ cụt và chỉ còn những giấc mơ hãi hùng. Đời tôi thật trống rỗng nếu không có nàng. Tôi thấy yêu thương nàng qúa đỗi. Qùynh Hoa vẫn còn vẽ những giấc mơ của nàng nhưng tôi không còn nghe gì cả, chỉ thấy cánh môi hồng mấp máy, hơi thở thơm tho mùi mía lùi phà trên mặt tôi. Bất chợt, tôi ôm và hôn nàng say đắm, người nóng bừng như có dòng điện chạy ào ạt từ tim lên đầu. Nàng đẩy nhẹ tôi ra:
– Coi kìa, người ta cười mình đó.
– Ai mà dám cười mình.
Nàng đánh trống lảng, bâng quơ hỏi tôi:
– Anh ơi, cây cầu này có tên không anh.
– Anh cũng chẳng biết nữa, hay là mình đặt cho nó một cái tên làm kỷ niệm nghe.
– Em cho anh đặt đó.
– Ừ, hay là mình gọi là Cây Cầu Biên Giới nghe em.
– Cái tên nghe cũng hay đấy, nhưng mà nghe có vẻ chia ly qúa. Giống như trong bài “Chiều Mưa Biên Giới anh đi về đâu” của Nguyễn Văn Đông vậy.
Tôi phì cười:
– Mới thương nhau mà em đã nghĩ đến chuyện chia ly rồi.
– Nhưng mà em sợ lắm, thời buổi chiến tranh… Lỡ mai này, anh bỏ em ở đây một mình, em buồn lắm đó.
– Không, anh sẽ không bỏ em một mình, anh sẽ xin với Mẹ để cưới em, chúng ta mãi mãi bên nhau.
Nàng reo lên sung sướng như một đứa con nít, mắt sáng ngời những tia hy vọng, rồi ôm lấy tôi. Ôi mùi thơm ngọt ngào, tôi làm bộ đẩy nhẹ nàng ra:
– Coi chừng người ta thấy, họ cười mình đó.
– Ai cười hở mười hàm răng !
Thật không ngờ, nơi rừng rú hoang vu nguy hiểm này ai nghe đến cũng rợn tóc gáy. Bạn bè, người thân, lâu không gặp nhau, hỏi tôi bây giờ Ớ đâu, tôi trả lời ở quận Phú Nhơn tỉnh Cheo Reo, ai cũng lè lưỡi chọc tôi bộ hết đất rồi sao lên miền Thượng ở vậy, tôi chỉ cười khì. Bây giờ tôi đã có lý do để trả lời họ … Bởi vì tôi mê hoa Qùynh, thế thôi.
– Anh làm gì ngồi thừ ra thế, hãy nói nữa về tương lai của chúng ta cho em nghe đi.
– Anh đang sung sướng qúa nên làm một bài thơ kỷ niệm.
– Ồ, anh biết làm thơ nữa sao? Hãy đọc em nghe đi, em sẽ thưởng cho anh.
– Ừ, anh đọc thơ con cóc, em đừng cười nghe. Em biết thơ con cóc không ? Con cóc trong hang, con cóc nhảy ra.
Nàng đọc tiếp:
– Con cóc ngồi đó, con cóc nhảy đi… với anh !!! Em thích thơ con cóc lắm. Em sẽ làm con cóc như trong chuyện cổ tích gì đó, anh học trò có người vợ cóc xấu xí, đêm đêm hiện nguyên hình là một nàng Tiên săn sóc cho chồng. Ban ngày là một con cóc lẽo đẽo theo chồng.
– Nếu em là một nàng Tiên cóc, anh sẽ bỏ em vào ba lô mang theo khi đi hành quân, anh sẽ tâm sự với em.
– Anh phải đọc thơ cóc cho em nghe. Ơ, nếu vậy mấy Ông Lính sẽ gọi anh là người điên đó.
– Anh điên vì em, thì anh cũng chịu.
Nàng bá cổ tôi nũng nịu:
– Thôi đừng đánh trống lảng, đọc thơ con cóc cho em nghe đi anh.
– Ừ, anh đọc nghe, cấm cười đó, đứa nào cười anh khóa miệng lại cho mà coi.
Chiều về thấp thóang bên sông,
Thấy Qùynh thơm ngát thấy lòng xôn xao.
Nàng cười rũ rượi, hai tay đánh liên hồi vào vai tôi. Một ngày như mọi ngày trôi qua, trong thung lũng tình yêu, bên cây câu biên giới, nỗi chết đã tạm chịu rút lui, để nhường chỗ cho tình yêu hoa bướm ngọt ngào. Tôi lấy con dao găm đeo bên mình khắc câu thơ trên thành cầu sắt để đánh dấu một chặng đường yêu đương…
&
– Anh muốn vào chợ hay đến nhà ai ở quận Phú Nhơn ?
Tiếng người tài xế kéo tôi về thực tại. Giấc mơ thật ngắn ngủi, như cuộc tình của chúng tôi.
– Anh cho tôi lại trường tiểu học.
Quang cảnh vẫn không thay đổi mấy, ngôi trường tiểu học vẫn như xưa. thời gian như ngừng trôi Ớ quận lỵ nhỏ bé này. Phố chợ đìu hiu vẫn còn kia, hàng rào kẽm gai chung quanh doanh trại nơi tôi đóng quân vẫn còn đó, nhưng chẳng ai biết đến một người con gái đẹp như hoa Qùynh đã từng in dấu chân nơi chốn này. Hình ảnh ngày xưa vẫn còn đủ chỉ thiếu một người. Tôi hối người tài xế chạy ra phía cây cầu. Chiếc cầu sắt nhỏ bé đầy dấu kỷ niệm, tôi như trong giấc mơ, Chàng Tú Uyên ngày xưa khi tỉnh giấc không thấy người đẹp trong tranh đâu nữa, chắc cũng ngỡ ngàng như tôi hôm nay thôi. Tôi bước lên cầu, ngồi đúng vào chỗ ngày xưa chúng tôi đã từng có một thời mơ mộng. Tôi ngồi bệt xuống, hai chân đong đưa, mắt nhìn xa xăm trên những ngọn phượng vĩ bên sông, cố tìm chút nắng vàng ngày xưa của một buổi chiều tà. Tìm mãi cũng chẳng thấy đâu, không thấy một dấu tích gì của nàng. Nơi thành cầu này tôi đã hôn những nụ hôn đầu tiên trong đời, vẽ những giấc mơ dầu tiên trong đời và những bài thơ con cóc đầu tiên trong đời tôi. Đúng là cây câu chia ly như nàng đã nói. Bây giờ nàng ở đâu, hay đã bỏ xác trên tỉnh lộ Số Bảy trên đường di tản về Tuy Hoà. Ồ phải rôì, tôi phải tìm lại bài thơ con cóc có lẽ đó là kỷ niệm duy nhất còn lại của tôi với nàng. Tôi dò từng tấc sắt trên thành cầu, bài thơ còn đó nhưng đã dài hơn hai câu:
Chiều về chiều vẫn một mình,
Trách người năm cũ bỏ tình bơ vơ.
Tôi bay về Hoa Kỳ lòng buồn miên man, bao nhiêu háo hức của ngày trở lại Việt Nam đã tiêu tan đâu mất chỉ còn lại sự mệt mỏi và chán chường. Tôi đã đi mọi nơi, để tìm tung tích của Quỳnh Hoa nhưng cũng không có tin tức gì. Ngày ấy nếu tôi không bị kẹt ngoài Huế, chắc chúng tôi đã chết bên nhau hay cùng nhau lênh trên con tàu vượt biên. Thời gian thấm thoát trôi đi, tóc tôi đã bắt đầu điểm bạc. Mỗi lần đi dâu, thấy bóng giáng mái tóc thề và chiếc áo dài trắng lòng tôi lại xôn xao như ngày nào bên chiếc Cầu Biên Giới.
http://www.quehuongngaymai.com/forums/showthread.php?165416
Thursday, April 4, 2019
Wednesday, April 3, 2019
Nỗi Buồn Rơi Xuống
Tháng Tư
Nỗi Buồn Rơi Xuống Tháng Tư
Sunday, April 30, 2017 Bùi Phạm Thành , Một Thời Chinh Chiến , Thơ ,
Văn Học Đọc: 303
Mỗi năm vào độ tháng Tư, người
Việt ly hương lại ngậm ngùi nhớ lại những cảnh tượng hãi hùng của những giờ
phút hoang mang cho thân phận, chẳng hiểu mai này rồi sẽ ra sao? Một chính thể
sẽ bị thay đổi. Dĩ nhiên là thế. Nhưng rồi tất cả những gì đã có, đã gầy dựng
nên sẽ còn là của mình hay chăng? Những kiến thức đã thu nhận, học hỏi được rồi
sẽ còn chút giá trị gì không? Có phải chăng là tay trắng sẽ hoàn trắng tay? Tất
cả những câu hỏi tụ lại như một đám mây xám mang nỗi buồn nặng chĩu lơ lửng
trên đầu, sắp phủ xuống cuộc đời của những người thua cuộc ... Vô tình mà bài
hát "Sorrow About To Fall" đã diễn tả được tâm trạng của người Việt
ly hương với nỗi buồn tháng Tư vẫn còn vương vấn, dẫu tháng năm đã qua đi gần nửa
đời người ...
Sorrow About To Fall
by Electric Light Orchestra
There's a silence in the
city
There's nobody around
And everyone that we knew
Moved to higher ground
There's a shadow hanging
overhead
It lingers there alone
Changing all we ever knew
The changes start to show
There's a sorrow about to
fall
There's a sorrow about to
fall
There's a new sound in the
wires
And ears are to the ground
And everything that once was ours
Has slowly turned around
Something happened to the
seasons
Started falling with the rain
And something changed forever
We gotta find a way
There's a sorrow about to
fall
There's a sorrow about to
fall
There's people in the
photographs
But they all had to run
They went away to somewhere
Beyond the setting sun
There's a sorrow about to
fall
There's a sorrow about to
fall
There's a sorrow about to
fall
There's a sorrow about to
fall
Sorrow about to fall, fall,
fall, fall
Sorrow about to fall
Sorrow about to fall
Sorrow about to fall
Sorrow About To Fall
Nỗi Buồn Rơi Xuống Tháng Tư
Bùi Phạm Thành
Bỗng dưng thành phố im lìm,
Chung quanh hoang vắng, lặng
im bóng người.
Bạn bè, thân thuộc của tôi,
Đã đi ẩn tránh ở nơi yên
lành.
Trên đầu mây xám phủ quanh,
Như là số phận đã dành cho
ta.
Cuộc đời sẽ lắm phong ba,
Những thay đổi đã hiện ra
đây rồi.
Đau thương sắp phủ xuống đời,
Mai này rồi biết phận người
ra sao?
Đâu đây có tiếng nghẹn ngào,
Trong hoang tàn ấy tính sao
bây giờ?
Hãi hùng như một cơn mơ,
Mở bừng mắt dậy bơ vơ giữa đời.
Trắng tay ngửa mặt nhìn trời,
Cơn mưa đổ xuống buốt rời thịt
da.
Đổi thay có phải chăng là
Quê hương mãi mãi sẽ là cố
hương.
Trách ai gây cảnh đoạn trường,
Khiến bao người phải ly
hương phận đời.
Lặng nhìn mây xám lưng trời,
Tháng Tư với nỗi buồn rơi ngậm
ngùi.
(ngày 30 tháng 4 năm 2017)
Sorrow About To Fall
Tuesday, April 2, 2019
Bản Đồ Việt Nam và những bài khác
http://catbuicarolineth.blogspot.com/2013/12/blog-thu-khoa-huanban-o-viet-nam-va.html
lundi 9 décembre 2013
Blog Thu Khoa Huân
Báo chí - Thơ
Written by Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
Tuesday, 03 December 2013 00:00
Kính Quý Độc Giả.
Chúng tôi vừa nhận được một bài thơ gởi đến trang mạng TKH, nhưng không có tên tác giả. Nhận thấy bài thơ hay và thích hợp với trang nhà trường, nên tôi tìm hiểu về tác giả.
- Theo Mục Sư Nguyễn Quang Phiệt (NC) thì Ông Lương Vĩnh Thành hiện đang sống ở Georgia cho biết tác giả bài thơ là của Đằng Phương, tức Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.
- Nhưng theo ông Phùng Quốc Công, người trực tiếp và lưu trữ nhiều Thơ Văn của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho biết thì bài thơ Bản Đồ Việt Nam không phải của Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy, đồng thời cho tôi đọc một bài viết của tác giả Nguyễn Văn Quảng Ngãi. (Tôi xin phép tác giả NVQN trích một đoạn, đề cập đến tác giả bài thơ nầy).
Theo tác giả NVQN: ”Vào thời đó học sinh trong lớp được thầy cho học thuộc lòng bài BẢN ĐỒ VIỆT NAM”… Trong một bức thơ gởi cho người cháu PĐK, Ông viết tiếp ”Đã 60 năm trôi qua, trí nhớ đã mai một khá nhiều qua biết bao nhiêu đổi thay tang tóc nên chú không còn biết tên tác giả của bài thơ nầy là ai nhưng điều chú muốn chia xẻ với nhau là tình yêu quê hương trong lòng mỗi người bắt đầu qua những câu ca dao được mẹ ru cho tròn giấc ngủ từ thuở lên ba, lên bốn… rồi nằm mãi trong tâm mỗi người. Đó chính là nam châm vô hình đã cột chân mọi người vào nơi chôn nhau cắt rún của mình”.
Chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả bài thơ BẢN ĐỒ VIỆT NAM, Một bài thơ xưa cách nay hơn 6 thập niên nhưng vẫn còn vang dội lòng người trước họa xâm lăng phương Bắc, một bài thơ thể hiện Tình Tự Dân Tộc với tấm lòng sắc son yêu Quê Hương Đất Nước, bàng bạc trong tâm hồn người dân Việt, một bài thơ đã ung đúc những thế hệ thanh niên VN vì nước quên mình chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi, bảo vệ vùng trời vùng biển quê ta.
Kính,
NHC
Định sẵn Bản Đồ Nước Việt - Đoàn Văn Cừ
Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004)
Bút danh khác: Kẻ Sĩ, Cư sĩ Nam Hà...
Bản Đồ Nước Việt
Tôi giữ mãi suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bàng
Có tấm biển đề: "An thôn học hiệu".
Mỗi buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thưở trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau này nối được chí tiền nhân
Những cách xa sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt đã trở nên hùng nghiệp
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Trên những trang lịch sử nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm.
Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nước Việt Nam địa giới phải chia rời
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam Bắc không cùng chung cội rễ
Ta nhất định không khi nào chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam".
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính
Tôi tưởng tượng như đang ngồi dự thính
Thầy tôi đang hùng biện giữa thanh niên
Đang những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.
Đoàn Văn Cừ
Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
< Prev Next >
Last Updated on Tuesday, 03 December 2013 18:33
Author of this article: Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
Comments
0 #4 Bản Đồ Việt nam — Trường Giang 2013-12-07 18:21
Kính Ông Bùi Bảo Sơn,
Chân thành cảm ơn Ông đã giúp cho chúng tôi biết Bút hiệu và tên Tác giả :"Bản Đồ Việt Nam" để điều chỉnh lại cho đúng.
Chúng tôi nhận thấy trong bài thơ nầy mỗi câu 8 chữ, nhưng câu sau đây có 7 chữ:"Trên những trang lịch sử nghìn năm".
Có phải mình thiếu sót một chữ, xin Ông giúp để chúng tôi sửa lại.
Có phải:"Trên những trang lịch sử (BỐN) nghìn năm". Rất mong sự giúp đở của ông.
Chúc Ông được mọi điều Tốt Đẹp.
TG
Quote
0 #3 Cảm ơn lời đóng góp . . . — Ban Biên Tập 2013-12-03 18:36
Ban Biên Tập trang nhà ThuKhoaHuan.com xin chân thành cám ơn ông Bùi Bảo Sơn đã cho biết tên tác giả bài thơ "Bản Đồ Việt Nam" để sửa lại cho đúng.
Chúc ông nhiều sức khỏe.
Trân trọng
BBT TKH.com
Quote
0 #2 RE: Bản Đồ Việt Nam — Bùi Bảo Sơn 2013-12-03 15:40
Bài thơ này chính ra có tên là GIỜ QUỐC SỬ của Đoàn Văn Cừ
GIỜ QUỐC SỬ
Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử.
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thuở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này nối được chí tiền nhân.
Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm
Đầy chiến thắng, đầy vinh quang, máu thắm..."
Đoàn Văn Cừ
Quote
0 #1 RE: Bản Đồ Việt Nam — Bùi Bảo Sơn 2013-12-03 15:36
Bài thơ này của Đoàn Văn Cừ
Xin các bạn sửa lại cho đúng
Định sẵn Bản Đồ Nước Việt - Đoàn Văn Cừ
Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004)
Bút danh khác: Kẻ Sĩ, Cư sĩ Nam Hà...
Bản Đồ Nước Việt
Tôi giữ mãi suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bàng
Có tấm biển đề: "An thôn học hiệu".
Mỗi buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thưở trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau này nối được chí tiền nhân
Những cách xa sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt đã trở nên hùng nghiệp
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Trên những trang lịch sử nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm.
Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nước Việt Nam địa giới phải chia rời
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam Bắc không cùng chung cội rễ
Ta nhất định không khi nào chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam".
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính
Tôi tưởng tượng như đang ngồi dự thính
Thầy tôi đang hùng biện giữa thanh niên
Đang những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.
Đoàn Văn Cừ
Thơ Tranh :DÒNG SÔNG, DÒNG ĐỜI.
Thơ : Huy Văn.
Design thơ tranh : Kim Loan
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15894:dong-song&catid=240:th-tranh&Itemid=390
Thơ tranh: GIÁNG SINH VỀ NHỚ MẸ.
Thơ : Nguyễn Vạn Thắng.
Design thơ tranh: Songthy.
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15895:giang-sinh-v-vng-m&catid=240:th-tranh&Itemid=390
Thơ : TÌM NHAU (Tác Giả : Linh Đắc)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15865:tim-nhau&catid=238:th&Itemid=58
Thơ : LÀM THƠ MỘT MÌNH ( Tác giả : Vâ Hà)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15864:lam-th-mt-minh&catid=238:th&Itemid=58
Thơ : BẢN ĐỒ VIỆT NAM (Đây là một bài thơ xưa nhưng rất hay, một bài thơ thể hiện tình tự dân tộc với tấm lòng sắc son yêu quê hương đất nước trước họa xâm lăng phương Bắc...)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15862:bn-vit-nam-&catid=238:th&Itemid=58
http://catbuicarolineth.blogspot.com/2013/12/blog-thu-khoa-huanban-o-viet-nam-va.html
lundi 9 décembre 2013
Blog Thu Khoa Huân
Báo chí - Thơ
Written by Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
Tuesday, 03 December 2013 00:00
Kính Quý Độc Giả.
Chúng tôi vừa nhận được một bài thơ gởi đến trang mạng TKH, nhưng không có tên tác giả. Nhận thấy bài thơ hay và thích hợp với trang nhà trường, nên tôi tìm hiểu về tác giả.
- Theo Mục Sư Nguyễn Quang Phiệt (NC) thì Ông Lương Vĩnh Thành hiện đang sống ở Georgia cho biết tác giả bài thơ là của Đằng Phương, tức Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy.
- Nhưng theo ông Phùng Quốc Công, người trực tiếp và lưu trữ nhiều Thơ Văn của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy cho biết thì bài thơ Bản Đồ Việt Nam không phải của Đằng Phương Nguyễn Ngọc Huy, đồng thời cho tôi đọc một bài viết của tác giả Nguyễn Văn Quảng Ngãi. (Tôi xin phép tác giả NVQN trích một đoạn, đề cập đến tác giả bài thơ nầy).
Theo tác giả NVQN: ”Vào thời đó học sinh trong lớp được thầy cho học thuộc lòng bài BẢN ĐỒ VIỆT NAM”… Trong một bức thơ gởi cho người cháu PĐK, Ông viết tiếp ”Đã 60 năm trôi qua, trí nhớ đã mai một khá nhiều qua biết bao nhiêu đổi thay tang tóc nên chú không còn biết tên tác giả của bài thơ nầy là ai nhưng điều chú muốn chia xẻ với nhau là tình yêu quê hương trong lòng mỗi người bắt đầu qua những câu ca dao được mẹ ru cho tròn giấc ngủ từ thuở lên ba, lên bốn… rồi nằm mãi trong tâm mỗi người. Đó chính là nam châm vô hình đã cột chân mọi người vào nơi chôn nhau cắt rún của mình”.
Chúng tôi xin giới thiệu đến quý độc giả bài thơ BẢN ĐỒ VIỆT NAM, Một bài thơ xưa cách nay hơn 6 thập niên nhưng vẫn còn vang dội lòng người trước họa xâm lăng phương Bắc, một bài thơ thể hiện Tình Tự Dân Tộc với tấm lòng sắc son yêu Quê Hương Đất Nước, bàng bạc trong tâm hồn người dân Việt, một bài thơ đã ung đúc những thế hệ thanh niên VN vì nước quên mình chống ngoại xâm để bảo vệ bờ cõi, bảo vệ vùng trời vùng biển quê ta.
Kính,
NHC
Định sẵn Bản Đồ Nước Việt - Đoàn Văn Cừ
Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004)
Bút danh khác: Kẻ Sĩ, Cư sĩ Nam Hà...
Bản Đồ Nước Việt
Tôi giữ mãi suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bàng
Có tấm biển đề: "An thôn học hiệu".
Mỗi buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thưở trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau này nối được chí tiền nhân
Những cách xa sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt đã trở nên hùng nghiệp
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Trên những trang lịch sử nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm.
Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nước Việt Nam địa giới phải chia rời
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam Bắc không cùng chung cội rễ
Ta nhất định không khi nào chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam".
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính
Tôi tưởng tượng như đang ngồi dự thính
Thầy tôi đang hùng biện giữa thanh niên
Đang những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.
Đoàn Văn Cừ
Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
< Prev Next >
Last Updated on Tuesday, 03 December 2013 18:33
Author of this article: Nguyễn Hữu Chánh - Sưu tầm
Comments
0 #4 Bản Đồ Việt nam — Trường Giang 2013-12-07 18:21
Kính Ông Bùi Bảo Sơn,
Chân thành cảm ơn Ông đã giúp cho chúng tôi biết Bút hiệu và tên Tác giả :"Bản Đồ Việt Nam" để điều chỉnh lại cho đúng.
Chúng tôi nhận thấy trong bài thơ nầy mỗi câu 8 chữ, nhưng câu sau đây có 7 chữ:"Trên những trang lịch sử nghìn năm".
Có phải mình thiếu sót một chữ, xin Ông giúp để chúng tôi sửa lại.
Có phải:"Trên những trang lịch sử (BỐN) nghìn năm". Rất mong sự giúp đở của ông.
Chúc Ông được mọi điều Tốt Đẹp.
TG
Quote
0 #3 Cảm ơn lời đóng góp . . . — Ban Biên Tập 2013-12-03 18:36
Ban Biên Tập trang nhà ThuKhoaHuan.com xin chân thành cám ơn ông Bùi Bảo Sơn đã cho biết tên tác giả bài thơ "Bản Đồ Việt Nam" để sửa lại cho đúng.
Chúc ông nhiều sức khỏe.
Trân trọng
BBT TKH.com
Quote
0 #2 RE: Bản Đồ Việt Nam — Bùi Bảo Sơn 2013-12-03 15:40
Bài thơ này chính ra có tên là GIỜ QUỐC SỬ của Đoàn Văn Cừ
GIỜ QUỐC SỬ
Những buổi sáng, vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê,
Chúng tôi ngồi yên lặng, lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử.
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ,
Nước chúng ta là một nước vinh quang.
Bao anh hùng thuở trước của giang san,
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc.
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học,
Để sau này nối được chí tiền nhân.
Ta chắc rằng, sau một cuộc xoay vần,
Dân tộc Việt sẽ là dân hùng liệt.
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt,
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Bên những trang lịch sử bốn ngàn năm
Đầy chiến thắng, đầy vinh quang, máu thắm..."
Đoàn Văn Cừ
Quote
0 #1 RE: Bản Đồ Việt Nam — Bùi Bảo Sơn 2013-12-03 15:36
Bài thơ này của Đoàn Văn Cừ
Xin các bạn sửa lại cho đúng
Định sẵn Bản Đồ Nước Việt - Đoàn Văn Cừ
Đoàn Văn Cừ (1913 - 2004)
Bút danh khác: Kẻ Sĩ, Cư sĩ Nam Hà...
Bản Đồ Nước Việt
Tôi giữ mãi suốt đời trong trí nhớ
Quãng ngày xanh học tập tại quê hương
Trong căn nhà nho nhỏ dưới cây bàng
Có tấm biển đề: "An thôn học hiệu".
Mỗi buổi sáng vừng hồng le lói chiếu
Trên non sông, làng mạc, ruộng đồng quê
Chúng tôi ngồi yên lặng lắng tai nghe
Tiếng thầy giảng suốt trong giờ quốc sử
Thầy tôi bảo: "Các em nên nhớ rõ
Nước chúng ta là một nước vinh quang
Bao anh hùng thưở trước của giang san
Đã đổ máu vì lợi quyền dân tộc
Các em phải đêm ngày chăm chỉ học
Để sau này nối được chí tiền nhân
Những cách xa sau một cuộc xoay vần
Dân nước Việt đã trở nên hùng nghiệp
Ta tin tưởng không bao giờ tiêu diệt
Giống anh hùng trên sông núi Việt Nam
Trên những trang lịch sử nghìn năm
Đầy chiến thắng vinh quang, đầy máu thắm.
Ta sẽ phải suốt đời đau uất hận
Nước Việt Nam địa giới phải chia rời
Dân Việt Nam huyết mạch rẽ đôi nơi
Người Nam Bắc không cùng chung cội rễ
Ta nhất định không khi nào chịu thế
Núi sông nào cũng của nước Việt Nam".
Tiếng thầy tôi suốt buổi học vang vang
Trên án sách, bên những hàng cửa kính
Tôi tưởng tượng như đang ngồi dự thính
Thầy tôi đang hùng biện giữa thanh niên
Đang những vì quyền lợi giống Rồng Tiên
Thề giữ vững bản đồ non nước Việt.
Đoàn Văn Cừ
Thơ Tranh :DÒNG SÔNG, DÒNG ĐỜI.
Thơ : Huy Văn.
Design thơ tranh : Kim Loan
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15894:dong-song&catid=240:th-tranh&Itemid=390
Thơ tranh: GIÁNG SINH VỀ NHỚ MẸ.
Thơ : Nguyễn Vạn Thắng.
Design thơ tranh: Songthy.
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15895:giang-sinh-v-vng-m&catid=240:th-tranh&Itemid=390
Thơ : TÌM NHAU (Tác Giả : Linh Đắc)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15865:tim-nhau&catid=238:th&Itemid=58
Thơ : LÀM THƠ MỘT MÌNH ( Tác giả : Vâ Hà)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15864:lam-th-mt-minh&catid=238:th&Itemid=58
Thơ : BẢN ĐỒ VIỆT NAM (Đây là một bài thơ xưa nhưng rất hay, một bài thơ thể hiện tình tự dân tộc với tấm lòng sắc son yêu quê hương đất nước trước họa xâm lăng phương Bắc...)
http://www.thukhoahuan.com/index.php?option=com_content&view=article&id=15862:bn-vit-nam-&catid=238:th&Itemid=58
Monday, April 1, 2019
Vũ trụ, tôn giáo, và con người
http://saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htmVũ trụ, tôn giáo, và con người
Nguyễn Tài Ngọc
http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm
Ảnh NASA
Ba weekend trước vợ chồng tôi dự một đám tang. Khi còn trẻ, chúng ta chỉ bận rộn lo về đời sống, nhưng đến tuổi gần đất xa trời, không ai mà không nghĩ đến một ngày nào khi nằm xuống, chúng ta sẽ đi đâu, Bến Hải hay Cà Mau?
Tôi đã đến cái tuổi không còn thiết tha với nấu bánh chưng mỗi lần Tết đến, không nghĩ đến mỗi lần lái xe phải ngồi lên chiếc Lexus hay Mercedes cho êm mông, khi ra đường chỉ cần mặc quần xà-lỏn cho thoải mái thay vì diện mạo chỉnh tề, muốn vất hết đồ đạc dư thừa trong nhà từ quần áo đến TV bàn ghế để chỉ sống với khoảng không trống vắng: tôi đã sẵn sàng chờ đợi chuyến xe sang ngang nửa đêm về sáng, không phải sang ngang về nhà vợ mà về một phương trời thăm thẳm ở bên kia thế giới.
Nói "sẵn sàng" thì cũng hơi vô lý vì làm sao một người có thể sẵn sàng rời bỏ một thế giới thực tại với xã hội quen thuộc cả chục năm, có thể tách rời những vật chất tạo cho mình có một đời sống thoải mái, có thể vĩnh viễn bỏ lại gia đình với tình cảm gắn bó. Thế nhưng từ giã thế giới là một sự bắt buộc chứ không phải là một điều chọn lựa. Nó là một hành quyết đau khổ giữa trưa đúng ngọ nhất định sẽ xẩy ra chứ không phải là ân ái sung sướng giờ Tí canh Ba không thực hành cũng chẳng sao, thành thử ra một người phải chuẩn bị cho cái ngày xấu trời đó.
Từ xưa đến nay, chưa một người nào sau khi ngủm củ tỏi, thân xác đã đốt thành tro hay chôn ở nghĩa địa, lại trở lại sự sống vì ghiền xem giải Túc Cầu thế giới hay muốn đi shopping ví xách Louis Vuitton. Có những người chết đi sống lại trong một khoảng thời gian ngắn ngủi trên bàn mổ hay lâm vào tình trạng coma bất động, nhưng trong giây phút ngắn ngủi chết đó, họ chỉ thấy một khoảng không tối mực, một đường hầm đen đúa, chứ không một ai thấy thế giới bên kia.
Chính vì sự hoang mang không biết sự gì sẽ xẩy ra sau khi chết mà người ta tin vào tôn giáo, với hy vọng là nếu hiện hữu, họ không xuống địa ngục mà lên thiên đàng với sự sống đời đời.
Thay vì người khác luyện chưởng Kim Dung đọc mấy chục truyện kiếm hiệp, thay vì người khác vào mê hồn trận xem TV mấy trăm tập phim tình cảm Hàn Quốc, tôi bỏ nhiều thì giờ thức trắng đêm khuya không viết lại nhật ký của hai đứa mình nhưng tìm hiểu về nguồn gốc của con người, của vũ trụ. Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng và phân tích chi tiết, tôi nghĩ chết là hết, không có thế giới bên kia. Chết là đớn đau vĩnh viễn chứ không phải chết trong lòng một ít như lời một bài nhạc nào đó.
Lập luận của tôi dựa trên hai dữ kiện: thứ nhất, chẳng có tôn giáo nào đúng, và thứ hai, vũ trụ quá mênh mông, quả đất chỉ là hạt cát thì con người trên trái đất sống chết chẳng có nghĩa lý gì.
1. Tôn giáo: Thế giới có 7.6 tỷ người. 75% dân số thế giới tin vào một trong năm tôn giáo sau đây:
Tôn giáo Số tín đồ Tỷ lệ của dân số thế giới
(7.6 tỷ người)
1. Thiên Chúa giáo 2,420 triệu 33%
2. Hồi giáo (Islam) 1,800 triệu 23.2%
3. Ấn Độ giáo (Hinduism) 1,150 triệu 15%
4. Phật giáo 520 triệu 7.1%
5. Do Thái giáo (Judaism) 17 triệu .02%
Thiên Chúa giáo ra từ Do Thái giáo. Thế mà ở nước Do Thái, chỉ có 2% dân chúng tin Thiên Chúa giáo. 74.7% tin Do Thái giáo. Jesus là người Do Thái. Kinh Thánh là lịch sử của dân Do Thái. Dân Do Thái không tin Chúa Jesus thì tại sao Thiên Chúa giáo - là người ngoại cuộc-, có thể nói dân Do Thái sai?
Phật giáo phát xuất từ Ấn Độ. Số người tin Đức Phật ở Ấn Độ chỉ có 0.7%! Số người tin Thiên Chúa giáo ở Ấn Độ, 2.3%, còn nhiều hơn người tin vào Phật giáo. Đại đa số dân Ấn tin vào Ấn Độ giáo, 79.8%. Quốc gia theo Phật giáo nhiều nhất là Trung Quốc, Thái Lan, Myanmar, Nhật Bản, Việt Nam, Sri Lanka, Cam Bốt, Hàn Quốc, Taiwan...
Ấn Độ là nơi xuất xứ Phật giáo nhưng chính người Ấn Độ không tin vào Đức Phật thì tại sao các quốc gia Á Châu lại tin? Tôi không tin vào Đức Phật vì một lý do rất đơn giản là Đức Phật cũng là người như tôi, không phải là Đấng sáng tạo loài người. Đức Phật cũng mơ ước một đời sống êm đẹp sau khi chết nên chỉ đưa ra một giả thuyết là nếu tu luyện thì sau khi chết có thể sẽ được lên Niết bàn. Đây chỉ là một giả thuyết, 100% là không đúng vì Đức Phật chưa bao giờ có kinh nghiệm chết khi còn sống, và Đức Phật sau khi chết không bao giờ trở lại từ thế giới bên kia để xác định giả thuyết của mình là đúng.
Hồi giáo và Ấn Độ giáo tôi lại càng không tin vì Hồi Giáo dã man triệt hạ người không tin đạo của mình. Ấn Độ giáo tin vào Đấng Thiêng Liêng muôn hình vạn trạng, nhưng không đưa bằng chứng Đấng Thiêng Liêng này sáng tạo loài người.
Nói chuyện về tôn giáo thì chán ngấy nên tôi tóm tắt sơ lược các tôn giáo ở phần cuối bài vì không muốn làm phiền lòng hàng xóm đang cần sự yên lặng nghỉ ngơi. Ai bỗng dưng có ý nghĩ đi tu ở núi Tà Lơn vì người yêu đã đi lấy chồng, muốn vài phút tìm lẽ thật trong khi cả thế giới đi lang thang trong sa mạc Sahara tìm sự sống trong mấy nghìn năm thì xin đọc phần cuối.
2. Vũ trụ: Trong thời kỳ phôi thai của lịch sử con người, trái đất là một cường lực huyền bí, vĩ đại nên quốc gia nào cũng tin là có thần thánh, từ văn minh Hy-Lạp đến văn minh Trung Quốc. Vì không biết là tròn, ai cũng tưởng trái đất đi muôn nghìn vạn dặm không bao giờ đến. Họ đặt trái đất là trung tâm của vũ trụ. Thế nhưng khi ngành thiên văn tiền phong của Hy-Lạp, Ai-Cập bắt đầu hiện hữu thì người ta mới thấy trái đất chẳng những không là trung tâm của vũ trụ, mà chỉ là hạt cát so với cả tỷ ngôi sao khác.
Năm 1927, một khoa học gia -và cũng là linh mục- người Bỉ tên George Lemaitre, đưa ra một giả thuyết là vũ trụ bắt đầu từ một sự bùng nổ to lớn (Big Bang), bắn ra gas và bụi bặm khắp nơi.
Năm 1929, với viễn vọng kính đường kính 100 inch đặt ở núi Mount Wilson, California, nhà thiên văn Edwin Hubble khám phá ra các ngôi sao không nằm rời rạc loạn xạ, mà nằm chung với nhau trong những dải ngân hà, galaxies. (Mỗi dải ngân hà trung bình có 100 tỷ ngôi sao. Trái đất chúng ta nằm trong dải ngân hà Millky Way, có thể có đến 250 tỷ ngôi sao).
Edwin Hubble
Hubble tưởng là các dải ngân hà gần xa đủ loại có cái đang bay về hướng trái đất chúng ta, có cái bay ra xa, nhưng ông khám phá là tất cả đều càng ngày càng bay xa trái đất (giống như khi trái lựu đạn nổ thì các miểng đạn bung ra tứ hướng), phù hợp với giả thyết của Lemaitre.
Vào thập niên 1960, nhờ một sự tình cờ trong khi thiết lập antenna để nghe tín hiệu âm thanh giữa các dải ngân hà, hai thiên văn gia Arno Penzias và Robert Wilson (sau này được trao giải thưởng Nobel về Vật Lý) bắt nghe được tiếng vang âm ỉ trong vũ trụ mà sau này họ khám phá là tiếng vang từ "Big Bang".
Arno Penzias và Robert Wilson
Năm 1991, nhờ viễn vọng kính Hubble trên vệ tinh Cobe đo được phông của bức xạ tàn dư từ thời điểm nổ Big Bang trong quá khứ mà khoa học xác định giả thuyết vũ trụ phát xuất từ "Big Bang" của Lemaitre là đúng.
Suy diễn ngược thời gian tính toán sự giãn nở của vũ trụ, vị trí, sự di chuyển... của các ngôi sao, các dải ngân hà, khoa học hiện đại xác định nguồn gốc của vũ trụ như sau đây:
13.81 tỷ năm về trước, một tiếng nổ phát xuất từ một điểm duy nhất, bắn tung gas và bụi bặm, liên tiếp gấp đôi thể tích với tốc độ sao xẹt, 34 con số không trước một giây (10-34 giây)! 380000 năm sau cho đến bây giờ, những thể vật này -bây giờ là những trái banh helium và hydrogen gas-, trở thành những ngôi sao khổng lồ, dính chùm vào nhau trong những giải ngân hà.
Đi máy bay từ Mỹ về Việt Nam và ngược lại, đường dài xa vời vợi. Ngừng chuyển tiếp ở Taiwan, tổng cộng thời gian bay là 19 tiếng đồng hồ. Đối với con người thì trái đất quá mênh mông, quá to lớn. Thế nhưng nếu so sánh với vũ trụ thì trái đất chẳng nhằm nhò một tí ti ông cụ nào:
Chu vi của trái đất là 40,070 km (24,900 miles), một con số khá to. Nhưng so với mặt trời thì trái đất chỉ là hạt cát: mặt trời to hơn trái đất 1.3 triệu lần!
Mặt trời đỏ ở giữa. Trái đất chỉ là một chấm trắng nhỏ tí bên trái.
Cùng sự so sánh ấy, mặt trời "không thấm thía" gì so với cả tỷ ngôi sao khác trong vũ trụ: có những ngôi sao to gấp tỷ lần - chứ không phải triệu lần- mặt trời! Xin xem đoạn video Youtube này:
https://www.youtube.com/watch?v=M4M6wlBjU38
Những ảnh sau đây so sánh các hành tinh, mặt trời và các ngôi sao khác từ nhỏ đến to (https://www.iceagenow.com/Solar_System_Relative_Size.htm1):
Antares là ngôi sao sáng thứ 15 trên trời. Antares cách xa trái đất 1000 năm ánh sáng (vận tốc ánh sáng là 186,000 miles/giây , 300,000 km/giây)!
Ban đêm nhìn lên trời, chúng ta thấy nghìn ngôi sao.
-----------
Ảnh NASA
Tôi xin giải thích thêm về "ngôi sao" (star) và hành tinh (planet): Ngôi sao như mặt trời, chứa đựng toàn là khí nóng, 75% hydrogen và 23% helium nên tự nó phát ra ánh sáng. Giống như trái đất và mặt trời, sức hút của ngôi sao giữ lại những khí này trên mặt ngôi sao.
Hành tinh như trái đất, tự nó không có ánh sáng, quay chung quanh một ngôi sao như mặt trời. Vì hành tinh không có ánh sáng và quá xa trái đất nên viễn vọng kính tốt nhất bây giờ không thể thấy được hành tinh khác. Người ta đoán rằng vì có cả tỷ ngôi sao như mặt trời trong vũ trụ nên chắc cũng có cả tỷ thái dương hệ như của chúng ta (tám hành tinh quay chung quanh một mặt trời).
Tuy rằng ngôi sao còn quá xa, viễn vọng kính không có khả năng chụp hình rõ ràng, nhưng từ giữa thập niên 1990 đến nay, nhờ đo sự co giãn của ngôi sao (khi hành tinh quay chung quanh mặt trời, sức hút của nó làm mặt trời co giãn thành một hình tròn méo), mà khoa học gia khám phá được có hơn năm trăm thái dương hệ.
Mặt trời là một ngôi sao, thì có bao nhiêu ngôi sao trong vũ trụ? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta phải biết có bao nhiêu ngôi sao trong một dải ngân hà, và bao nhiêu dải ngân hà trong vũ trụ.
Dải ngân hà Milky Way (National Geographic)
Ảnh JPL-Caltech
Trái đất chúng ta nằm trong dải ngân hà Milky Way, với ước lượng có 240 tỷ ngôi sao. Nhưng có những dải ngân hà nhỏ hơn nên chúng ta chỉ tính ước lượng trung bình mỗi dải ngân hà có 100 tỷ ngôi sao.
Số lượng dải ngân hà mà khoa học đoán hiện hữu trong vũ trụ là 10 tỷ dải ngân hà.
Nhân 100 tỷ ngôi sao với 10 tỷ dải ngân hà thì con số ngôi sao ước lượng có trong vũ trụ là một nghìn tỷ tỷ ngôi sao. Con số một với 21 con số không theo sau: 1,000,000,000,000,000,000,000 ngôi sao!
Số lượng ngôi sao đã là khủng khiếp, thì không gian để cho 1,000,000,000,000,000,000,000 ngôi sao bay lơ lửng trong vũ trụ còn khủng khiếp đến chừng nào.
Hành tinh xa nhất trong Thái dương hệ của chúng ta là Neptune (Hải Vương tinh), với khoảng cách là 2.8 tỷ miles (4.5 tỷ km). Trạm Phi thuyền Quốc tế (International Space Station) bay vòng quanh trái đất với vận tốc 17,000 miles/giờ (28,000km/giờ). Với vận tốc này, con người bay 18.3 năm mới đến Neptune [Nếu nói về vận tốc ánh sáng 186,000miles/giây (300,000km/giây) thì ánh sáng chỉ mất 240 phút, bốn tiếng đồng hồ].
Con người trong vũ trụ không khác nào con kiến trên trái đất. Con kiến chắc mất cả nghìn năm đi vòng quanh trái đất thì con người cũng mất cả trăm nghìn năm đến những ngôi sao khác. Mất 18 năm mà con người chỉ đến được hành tinh xa nhất trong thái dương hệ thì không bao giờ nhân loại có thể đến xem các ngôi sao trong dải ngân hà để khám phá huyền bí của vũ trụ.
Tưởng tượng nếu con kiến nói được tiếng loài người, nếu nghe chúng nói chuyện tin một Đấng nào đó để được lên thiên đàng ở thế giới bên kia, chúng ta sẽ cười thầm vì chúng nó quá nhỏ bé, quá không đáng kể. Chính vì lý do này mà khi so sánh con kiến/trái đất với con người/vũ trụ, tôi nghĩ chết là hết.
Đây chỉ là quan điểm của riêng tôi, tôi không hề viết bài này với ý đả kích tôn giáo. Thật sự ra mọi người cứ nên tin vào niềm tin của mình, cho dù đó là Chúa, Phật, ông Đạo Dừa, Đức Huỳnh Phú Sổ, hay thờ Ông Bà vì tôn giáo nào cũng nhấn mạnh đạo đức trong sự dạy dỗ, huấn luyện con người trở nên tốt lành trong đời sống.
Chỉ có một điều tôi đề nghị là chúng ta không nên tin một tôn giáo để cầu mong được hưởng thụ, hy vọng tôn giáo sẽ đem lợi lộc cho chúng ta về tiền bạc, của cải, tình yêu, danh vọng. Nếu một người thật sự tin có thiên đàng/địa ngục sau sự chết thì những thứ vật chất kể trên chỉ là phụ trội của một đời sống tạm bợ, vô nghĩa lý. Chúng nó không thể nào so sánh bằng những nghĩa cử và hành động nhân từ quên mình cứu người, xả thân giúp nhân loại, đặt an ninh, quyền lợi, an sinh xã hội của người khác trên của mình trong đời sống hiện tại trên trái đất.
-----------------------------------------------------------------
Phụ chú: 5 tôn giáo chính yếu, niềm tin và xuất xứ:
1. Thiên Chúa giáo (Công giáo và Tin Lành, Christianity): Tin Đức Chúa Trời sáng tạo vũ trụ, tin Chúa Jesus là con Đức Chúa Trời, tin ba ngôi là một: Đức Chúa Trời, Đức Chúa Con Jesus và Đức Thánh Linh.
Thiên Chúa giáo khởi nguồn từ Do Thái giáo (cùng tin Đức Chúa Trời và Cựu Ước như Do Thái giáo). Người sáng lập Thiên Chúa giáo là Chúa Jesus, sinh năm 4 trước Công Nguyên - chết năm 30. Thiên Chúa giáo được chính thức là quốc giáo của đế quốc La-Mã vào năm 395. Căn cứ theo Kinh Thánh thì Chúa Jesus là người duy nhất sống lại từ cõi chết.
Kinh Thánh của Thiên Chúa giáo là Biblos (tiếng Hy Lạp), Bible tiếng Anh.
Thiên Chúa giáo tin là vì Adam và Eva phạm tội không nghe lời Đức Chúa Trời nên tất cả mọi người khi sinh ra đều đã có tội. Cách duy nhất để "rửa" tội này và được sự sống đời đời là tin Chúa Jesus. Vì thế Thiên Chúa giáo gọi Jesus là Đấng Cứu Rỗi
2. Hồi giáo (Islam): Hồi giáo cũng tin vào Đức Chúa Trời, nhưng giống như Do Thái giáo, tin Đức Chúa Trời là một người duy nhất, không có ba ngôi. Hồi giáo gọi Đức Chúa Trời của họ là Allah. Hồi giáo cũng tin vào Đấng Cứu Rỗi, nhưng Đấng Cứu Rỗi là Muhammad, không phải Jesus. Hồi giáo công nhận có Jesus, nhưng Jesus chỉ là một người tiên tri, không phải Đấng Cứu Rỗi. Muhammad là người sáng lập Hồi giáo, sinh năm 570, chết năm 632.
Kinh Thánh của Hồi giáo là Quran hay Koran.
Hồi giáo tin "nhân chi sơ tính bổn thiện", con người chỉ phạm tội khi trưởng thành, va chạm cuộc sống. Làm việc nhân từ và ăn ở đạo đức theo kinh Koran thì sẽ được cứu rỗi.
3. Do Thái giáo (Judaism): Tin chỉ có một Đức Chúa Trời sáng tạo vũ trụ. Sáng lập viên là Abraham (sinh năm 1800 trước Công Nguyên). Do Thái giáo tin Jesus chỉ là một người Do Thái bình thường, bị đóng đinh vì khai man là con Đức Chúa Trời, là Đấng Cứu Rỗi.
Kinh Thánh của Do Thái giáo là Tanakh, tương tự với Cựu Ước của Thiên Chúa giáo.
Do Thái giáo cũng không tin mọi người có tội vì Adam và Eva. Ai phạm tội thì chỉ cần sống theo dạy bảo của Kinh Thánh và thường xuyên cầu nguyện với Đức Chúa Trời để được tha tội. Vì thế Do Thái giáo để ra một ngày chuộc tội và sám hối đặc biệt Yom Kippur để cầu nguyện và xưng tội với Chúa. Ngày này thường xẩy ra vào Tháng 9 hay Tháng 10. Tín đồ tuyệt thực trong 25 giờ đồng hồ để cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
4. Ấn Độ giáo (Hinduism): phát xuất từ Ấn Độ, là tôn giáo xưa nhất trên thế giới, 4000 năm. Không một ai sáng lập ra Ấn Độ giáo.
Ấn Độ giáo tin một Đấng Tối Cao duy nhất, Brahman. Đấng này muôn hình vạn trạng, có mặt khắp mọi nơi, ngay cả trong tâm linh mỗi người, gọi là Atman.
Ấn Độ giáo tin thuyết luân hồi, đầu thai, nhân quả (karma), và cõi trần tục đầy đau khổ. Nhưng một người có thể thoát sự đau khổ đó để đến chốn thiêng liêng bằng cách tìm hiểu về Atman và Brahman.
5. Phật giáo (Buddhism): Hiện hữu 2500 năm, không tin có một Đấng sáng tạo vũ trụ. Người sáng lập Phật giáo là Đức Phật, sinh ở Ấn Độ. Khi ra đời vào năm 563 hay 480 Trước Công Nguyên, Đức Phật là Hoàng Tử Siddhartha. Đức Phật tin theo Ấn Độ giáo về thuyết luân hồi, đầu thai, nhân quả (karma), và thế gian đầy khổ đau. Đức Phật nghĩ là muốn thoát khỏi sự đau khổ, thoát khỏi tái đầu thai vào trần tục, thoát khỏi vòng luân hồi của cõi đời thì phải tu luyện để đạt đến cõi vô không, Niết Bàn.
Nguyễn Tài Ngọc
June 2018
http://saigonocean.com/
Tài liệu tham khảo:
wikipedia
http://christianityinview.com/xncomparison.html
http://www.bbc.com/future/story/20140812-how-was-the-universe-created
https://medium.com/starts-with-a-bang/ask-ethan-99-how-do-we-know-the-age-of-the-universe-64c07c83a80f
http://www.hawking.org.uk/the-origin-of-the-universe.html
https://medium.com/starts-with-a-bang/ask-ethan-99-how-do-we-know-the-age-of-the-universe-64c07c83a80f
https://www.space.com/13336-universe-history-structure-evolution-infographic.html
https://www.express.co.uk/news/science/814435/Homo-sapiens-fossils-East-Africa-Morocco-Hublin-Germany-Richter
https://www.relfe.com/07/solar_system_sun_earth_size.html
https://janus.astro.umd.edu/front/pages/links/Sizes1.html
https://en.wikiquote.org/wiki/Big_Bang#/media/File:The_History_of_the_Universe.jpg
https://kids.nationalgeographic.com/explore/space/milky-way/#milky-way-2.jpg
https://phys.org/news/2017-06-moroccan-fossil-rearranges-homo-sapiens.html
https://www.nationalgeographic.com/science/space/universe/galaxies/#/818.jpg
https://spaceplace.nasa.gov/review/dr-marc-space/solar-systems-in-galaxy.html
https://spacemath.gsfc.nasa.gov/weekly/10Page3.pdf
Subscribe to:
Posts (Atom)






















