Tuesday, January 28, 2020


Chuyện thằng lính đỏ
Chuyện thằng lính đỏ
Tháng Chín 12, 2012 bởi nguyenchan

Đôi giòng:
Mỗi người mỗi số phận, hẳn là nhiều người trong chúng ta đã từng trải “số phận của mình” rất không giống bất kỳ số phận một người nào khác (như vân tay nơi ngón tay) trên cõi nhân gian chẳng chút đơn giản này. Chuyện của Đỗ Xuân Tê rất thật, mà cũng rất người. Nó cho thấy một khuôn mặt khác rất đáng trân trọng của nước Mỹ: chính sách giúp đỡ những người tàn tật, hỗ trợ những thanh niên ham học, nâng đỡ những người lớn tuổi còn ý chí, và thiện chí tới trường,..
Xuân Tê

Chuyện thằng lính đỏ

Tôi với bố nó quen biết nhau từ khi gia đình ông di tản từ Quảng Trị vào Saigòn. Rồi đưa đẩy thế nào, anh em lại ở cùng cư xá, cùng đi tù và ra Bắc. Có khác là tuổi đời ông hơn tôi nửa con giáp, vai vế là người trên cấp, kinh nghiệm và sở học đáng bậc đàn anh, về nhân cách, đạo đức là người đáng nể trọng.
Qua tháng tư đen thì mọi chuyện đổi thay. Bất hạnh ập đến, cái vui thì còn giống nhau, chứ bất hạnh thì chẳng cái nào giống cái nào. Quả thực mỗi nhà mỗi cảnh, nhà ông, nhà tôi, nhà lối xóm đều có những chuyện phải ứng phó. Đối với gia đình có người đi tù cải tạo, lúc này mới biết tài xoay sở của mấy bà vợ ‘ngụy’, trước kia vốn chỉ phụ thuộc vào thu nhập của chồng, nhưng nay phải trực diện với cảnh chồng xa biền biệt, con cái ấu thơ, sinh nhai tạm bợ, chưa kể còn bị hù dọa, o ép, kỳ thị, sách nhiễu thì phải nói là tâm thần các bà luôn ở thế bị động.
Nhưng cũng may, nhờ đức nhẫn nại của phụ nữ Việt trỗi dậy, cùng với bản năng sinh tồn và sức mạnh nội tâm đã giúp nhiều bà thoát được sự hụt hẫng của cảnh đời đứt quãng. Chung chung thì như vậy, nhưng bà vợ ông thì vẫn có những nét đặc thù.
Khác với gia đình tôi, sau mấy năm chúng tôi ra Bắc, thì con cái ông có đứa đã lớn. Nhà lại trai nhiều hơn gái.Thằng trai vừa tròn 18 mới xong cấp 3. Trùng hợp thời điểm chiến trường Campuchia đang hồi ác liệt, bọn Pôn Pốt ở thế làm mưa làm gió, nên tổn thất về thương tật do cái bẫy mìn cóc của Trung Quốc làm cho lực lượng quân ‘ta’ thiếu hụt trầm trọng.

Cho nên dù lý lịch đen, hộ khẩu xám, con trai bọn ‘ngụy’ không được lên đại học nhưng vẫn được chiếu cố cho đi làm bia đỡ đạn xứ người. Thằng con lớn của ông bỗng trở thành thằng lính đỏ. Chuyện này ông mù tịt, mọi chuyện ở nhà thôi để cho bà lo.

Đi lính xanh hồi xưa còn mong có tin tức thường xuyên, chứ thời buổi lính đỏ đi là đi biền biệt, cứ tạm coi như mất một thằng con. Hơn một năm sau, linh tính như mách bảo chắc có chuyện không hay cho thằng lính đỏ. Thì vào một đêm tối trời, mưa nặng hạt dưới phố, có một bóng đen dáng bà già, dúi vào cửa nhà bà một mẩu giấy nhỏ. Bóng đen vụt đi, mẩu giấy nằm lại. Bà đưa cho con gái lớn xem giấy gì, có khi lại là truyền đơn của mấy ông phục quốc. 
Nhưng buồn mà vui, té ra thằng con đang nằm ở viện 107 (Tổng y viện Cộng Hòa cũ), bị mìn phải cưa chân nhưng còn sống.
Ngay sáng hôm sau, vội vàng mua mấy ổ bánh mì, hai lạng chả heo, cùng ít thuốc trụ sinh còn giữ lại được hồi ông ở đơn vị, bà tất tả đi thăm con.  Dù bảo vệ cho gặp nhưng thằng lính đỏ cũng bị hạch hỏi sao mẹ mày biết, nó chối nó không biết.  Sự thực trên xe tải chuyển về viện, ngang qua Ngã tư Bảy Hiền nó đã lén quăng mẩu giấy nhỏ có địa chỉ của nhà, một bà già nhặt được tìm đưa cho mẹ nó. Chuyện khó tin nhưng có sao nói vậy.
Vì con là bộ đội đâu phải vượt biên hay tù cải tạo, nên hai mẹ con được trò chuyện bình thường. Thằng con không dám khóc sợ mẹ buồn, sợ bị để ý không cho gặp lâu, nhưng nó cũng tình thiệt kể lể sự tình. 
Rằng nó bị mìn cóc, lúc đầu chỉ phải cưa nửa bàn chân, nhưng vì tải thương chậm, khử trùng ẩu, thuốc men thiếu, nên bị nhiễm trùng cưa dần lên tận đầu gối. Cho đến lúc này, dù đang nằm viện cái giò vẫn còn nhiễm độc vì thiếu kháng sinh.
Nó cũng than phiền dù diện thương binh nhưng ăn uống chẳng bằng ở nhà với mẹ, chuyên đề canh nấu món dưa chua, cơm theo tiêu chuẩn nên càng thêm xót ruột. Từ đấy, mẹ nó lại phải một tuần hai lần thăm nuôi thằng lính đỏ.Trước khi về bà không quên nhai dập mấy viên trụ  sinh nhét vô miệng nó. Ấy vậy mà vài tuần sau vết thương cũng lên da non có mòi thoát hiểm, còn phần dưới của chiếc giò thì vĩnh viễn tặng không cho Pôn Pốt.
*
Ít tháng sau thằng lính đỏ được xuất ngũ, về nhà với diện thương binh loại hai, kể như nhà phải nuôi báo cô. Vốn óc thực dụng, lấy độc trị độc, mẹ nó cởi bỏ vai vợ ngụy mặc lấy ‘mác’ mẹ thương binh, trước mắt tận dụng mọi thuận lợi như bao bà mẹ thương binh khác, cũng gạo tổ, bo bo hàng tháng, thịt heo ngày tết, phiếu đường, dầu đun hàng quý… Lợi điểm nhất là khỏi bị công an rượt đuổi khi bán chui ngoài chợ trời, một kế sinh nhai bà làm ăn từ sau ngày đứt bóng.
Cũng từ khi thằng lính đỏ trở về với cái giò cụt, lối xóm của bà từ công an khu vực, tổ trưởng dân phố đến các phó thường dân đều nhìn bà và đám con bà với con mắt khác, không bị coi thường như trước khi con bà đi lính. Thôi thì tái ông thất mã, trong cái xui có ló cái hên, bà tự an ủi như vậy.
Chuyện thằng trai lớn tạm yên, thì một tin vui lại đến với bà.  Đứa gái lớn cùng gia đình nhà chồng an toàn đến đảo Bi-đông (Mã lai).  Dưới mắt bà thì từ nay con bà sẽ là cần câu cơm cho mẹ, kẻ cứu đói cho gia đình. Tuy chưa nhận được tiếp tế từ ngoài, nhưng có con gái làm vật bảo chứng, bà mượn ngay bảy chỉ vàng của bà tổ trưởng để làm một chuyến ra Bắc thăm ông lính xanh.
Chuyện ngắn chuyện dài, giãi bày tâm sự, bà khoe ngay chuyện đứa gái, nhưng đắn đo mãi mới hé lộ chuyện thằng lính đỏ. Nghe xong, vui buồn lẫn lộn, một đứa an toàn đi thoát, một đứa thương tật trở về, ông nói thôi sống sót là may. Ông bà chia tay, ông như lên tinh thần, năm năm chịu cảnh mồ côi nay đã hồi sinh, lại được gặp người vợ thủy chung còn gì phước bằng.
Bà vẫn tiếp tục buôn bán chợ trời, tận dụng cái ô dù bà mẹ thương binh. Được cái tụi nhỏ rất ngoan, mẹ chỉ nuôi cơm, còn bảo nhau mà học. Hai đứa kế thằng lính đỏ thuộc loại xuất sắc trong trường, một thằng được cử thi toán toàn thành, một thằng cấp quận đều được ăn giải. Thuận buồm xuôi gió qua lớp 12, hai anh em được nhận vào Bách Khoa. Hồ sơ có khai ông bố làm rẫy ngoài Bắc không cần xác minh, nhưng cột anh em khai anh ruột ‘thương binh cách mạng’ nhà trường không tin đòi công an phường xác nhận.
Không đầy một năm, vợ chồng đứa gái lớn được nhập cảnh Hoa Kỳ vì có cha đang đi cải tạo cộng thêm cái bằng tu nghiệp Pháo binh cao cấp tại Mỹ của ông lính xanh mẹ nó còn dấu được sau ngày ông đi.  Quà cáp bắt đầu rót về, nhưng kém xa mấy ông bà có con làm ‘neo’, vì con bà tính học lên ngành vi tính.  Bà có vẻ không vui về chuyện này, trách con cứu đói như cứu hỏa, học neo không học, bày đặt học cao.  Nhưng mọi sự ngoài tầm tay, chim đã sổ lồng, còn chồng của nó nữa.  Thế là bà phải vất vả thêm ít năm nữa.

Ở chế độ nào cũng vậy, có con gái thì đỡ, con trai lắm chuyện nhức đầu, thời các cụ thì ngược lại, nhưng nay nhức đầu nhất vẫn là cái gông nghĩa vụ.  Chiến trường Campuchia ngày càng sa lầy, mìn cóc không chết, chỉ gây thương tật rồi trở thành gánh nặng cho gia đình, xã hội. Tụi Tàu cộng thâm thật, chơi sát ván thằng đàn em cùng chung biên giới.

Nhà bà sắp phải lo cho thằng trai thứ tư, chẳng phải chuyện vợ con gì mà vẫn chuyện bị đi lính đỏ. Thằng nhỏ biết mà vẫn lo, từ lo thành sợ bởi ám ảnh cái giò cụt của ông anh, tối ngày ngồi một chỗ, tâm thần bất ổn như người mất trí. Lại thằng Đực con bà Năm cùng lầu B, mới đi mấy tháng mà cánh tay từ cùi chỏ đổ xuống cũng bị mất tiêu. Mải lo chuyện của mình mà nó vẫn nhớ vụ thằng Đực chuyên thúc cùi chỏ vào ngực nó lúc đá banh chung, lại có phần ghen tị khi nhà nó được đơn vị thông báo tải thương tử tế vì thuộc diện có công với cách mạng.

Chẳng biết do ai xúi bẩy, thằng nhỏ bảo mẹ để con lo, rồi dấu mẹ dùng kế…giả điên mỗi lần được gọi đi tái khám sức khoẻ.  Chuyện tưởng dễ ăn, ai ngờ lại chuyển theo chiều hướng xấu, điên giả dần thành điên thật.  Sau một cơn sốt cao, nhập viện ít ngày trở về nhà, tâm thần thằng nhỏ thay đổi hẳn, lúc cười lúc khóc, tay hay làm động tác giả như bắn súng.  Ra ngoài gặp ai cũng pằng pằng, rồi cười khoái chí. Mặt mũi thì lại hiền khô, không có vẻ gì là người mất trí. Công an khu vực bắt đầu để ý, theo định kỳ gửi thằng nhỏ lên Chợ Quán để xét nghiệm thực hư.  Bà mẹ ngoài tầm tay, không biết xoay sở thế nào vì thằng con cũng chẳng còn khả năng tư duy để thú thật mọi chuyện với mẹ nó.
*
Giữa lúc này thì ông lính xanh được tha về, vì đã trên 8 năm, con đông, gia đình lại có con thương binh lính đỏ.  Ông kiếm được một chân đạp xe ba bánh giao đồ phụ tùng cho một tiệm buôn ở ngoại thành.  Tuy ra tù, có công ăn việc làm ngay, nhưng lại phải đối phó vì nhiều chuyện nhức đầu khiến ông nghiệm ra rằng trong tù, ngoài tù mỗi nơi có caí khổ riêng của nó, bất giác ông cảm thấy thương bà vợ tần tảo của mình.
Tôi vẫn phục ông ở chỗ tuy có máu nhà binh, nhưng không nóng nảy, chuyện gì cứ từ từ rồi tính. Gần chục năm trong trại làm ông càng thêm nhẫn nại, cam chịu an bài của số phận, ít khi phàn nàn than trách.
Nhưng chuyện đời khó đoán, bận rộn như vậy nào có ai dè đằng sau cái bề ngoài an phận ấy, bố thằng lính đỏ vẫn có cái máu muốn làm chuyện khác đời.  Ông muốn đòi… quyền làm con người! Ô hay! Chuyện cứ như đùa? Mà lại đòi vào lúc ‘trên răng dưới dế, quản chế tại gia!’ 
Tôi vốn hay suy diễn nên ngờ rằng có thể ông gốc người Quảng Trị, vùng Hải Lăng đất cằn sỏi đá, bão lụt thiếu ăn, dân quê ông chịu bao điều nghiệt ngã, luôn muốn vùng lên, muốn đấu tranh không phải chỉ cho quê mình mà cho cả những thân phận đồng cảnh ngộ, chính vậy mà quê ông nhiều người đi làm cách mạng, tất nhiên cách mạng hiểu theo nghĩa cao quý của nó, chứ không phải kiểu cách miệng ăn tiền như mấy lúc sau này.
Nhưng lúc này ở hoàn cảnh ông, ông cũng biết đấu tranh là dại, là ngu, nên ông chọn một phương cách ôn hòa thường được xử dụng trong thời chế độ cũ là … ‘khơi động lương tri thế giới’ bằng cách gửi thư cho các nguyên thủ quốc gia để cảnh báo về thân phận của quê hương, trong đó có bi kịch của gia đình ông. Ông cũng nghe có nhiều nhà văn nhà báo đi tù về họ cũng dám viết bài gửi ra ngoài, có người đã bị bắt lại như cái ông có bút hiệu công tử gì đó. Ông có lợi thế là giỏi hai ngoại ngữ, tiếng Pháp hồi học trong nhà dòng, tiếng Anh qua hai lần tu nghiệp Mỹ, nên viết thẳng bằng tay chẳng cần đánh máy cho đỡ bị lộ.
Nghĩ là làm, ông tìm cách gửi thư cho Tổng thống Reagan, Nữ hoàng Anh, Tổng thống Pháp, Tổng thống Phi, Vua Thái, Nhật hoàng v.v.… Có hai lá thư gửi cho nguyên thủ đồng minh ông viết với tất cả tâm tình của một người lính cựu, một cho Tổng thống Mỹ, lúc này đang có mối quan hệ khá mặn mà với Chủ tịch Gorbachev; một cho Tổng thống Phi gợi lại tình đồng đội khi ông này chỉ huy một đơn vị dân sự vụ tại Tây ninh hồi 65.
Chẳng biết có đến tay các vị này không, nhưng dù không có hồi âm, ông vẫn gửi. Ông thường tiếp cận đám Tây ba lô đường Phạm ngũ Lão, vì ông nghĩ công an ít để ý và tụi trẻ thường phóng khoáng không nỡ từ chối lời thỉnh cầu của một cựu binh già cô thế muốn chuyển dùm lá thư riêng hầu mong thoát cảnh kềm kẹp áo cơm.
Ông có hé lộ với tôi chuyện ông làm.  Chẳng sợ mếch lòng, tôi nói thẳng thừng chẳng ăn cái giải gì, vừa tốn thì giờ, vừa nguy hiểm. Ông không nghe, cũng chẳng giận, vẫn tiếp tục gửi, danh sách nguyên thủ ngày càng dài thêm.
Vài năm sau, khi mấy đài BBC, VOA (vợ ông là thính giả chui từ sau 80) cho biết dường như có sự thương thuyết Mỹ-Việt liên quan đến số phận các tù cải tạo.  Ông không tin, nhưng ngưng viết, nghe ngóng tình hình.  Ấy thế mà chuyện nghe như thần tiên dần dà lại biến thành hiện thực.
*
Đầu 90, ông lính xanh nạp đơn xin cho gia đình đi Mỹ theo diện H.O.  Ngày phỏng vấn, ông bà và sáu đứa con lần lượt được mời vô.  Ông Mỹ từ Bangkok đã xem hồ sơ gia đình chẳng cần hỏi gì thêm, chỉ nhìn thẳng vào thằng cụt chân rồi quay đi.
Sau phần phỏng vấn là phần bắt tay chúc mừng, đột nhiên thằng giả điên, tay giơ ra không bắt lại làm động tác giả như bắn súng, chĩa thẳng vào ông Mỹ miệng hô “pằng pằng” như lúc ở nhà.  Bố thằng nhỏ hốt hoảng, xin phép người thông dịch nói thẳng bằng tiếng Anh vừa xin lỗi ông Mỹ vừa kể lể sự tình.
Cuối cuộc phỏng vấn, thằng giả điên bị từ chối, số còn lại được chấp thuận lên đường.  
Ông lính xanh vốn thương con, muốn đi thì đi cả, không được thì ở lại chờ con. 
Ông Mỹ như hiểu hoàn cảnh khuyên gia đình nên đi trước, ông hứa sẽ báo cho IOM (Tổ chức Di Dân Thế Giớ) lo thuốc men chữa trị cho con ông, khi nào nó ổn định sẽ cho sang sau. Ông bố chịu nghe, tin vào lời hứa của giới chức Mỹ. Ấy vậy mà mãi bảy năm sau, thằng nhỏ mới đến được Cali. vì mỗi lần tái khám để đi thì lại “pằng pằng” mấy ông bác sĩ Thụy điển nên bị kẹt lại.
*
Năm 2000, thiên niên mới của trái đất, gia đình ông lính xanh mới thực sự đoàn tụ. Ngoái cổ nhìn lại, gia đình ông quả có nhiều thay đổi.

Trước hết nói về thằng lính đỏ.  Sang Mỹ được hai tháng, cơ quan y tế giám định lại quyết định cho nó ăn trợ cấp tàn tật và hưởng Medi-Cal. Mấy tháng sau cấp cho một căn hộ khang trang nên nó ra ở riêng không phụ thuộc gia đình. Biết ơn nhất là chiếc chân giả của cơ quan chỉnh hình vừa nhẹ, vừa dễ tháo ra lắp vô, đi lại thoải mái, dẹp đi được cái của nợ cả chục năm vừa thô vừa nặng.
Nhưng về mặt tinh thần thì vết hằn nằm sâu trong não biến thành nỗi hận kể từ ngày ở Campuchia về, nó chẳng thiết gì chuyện làm lại cuộc đời.  Học thêm, học cao nó có thể làm được, thiếu gì gương thành đạt của người tàn tật ở xứ này, nếu không muốn nói nước Mỹ là thiên đường của người tàn tật.  Nó biết nhưng nó không ham.  Nó quyết định sống độc thân để khỏi phiền ai trong quãng đời còn lại.

Trong số các con, nếu ông thương yêu và dành sự săn sóc đặc biệt cho thằng giả điên, thì bà mẹ không dấu tình cảm sâu nặng của mình cho đứa trai đầu lòng, vì dù sao nó là đứa đã chia xẻ với bà gần như trọn vẹn những long đong sau ngày ‘giải phóng’.

Đám em thằng lính đỏ sang đất Mỹ quyết chọn con đường đi học lại, không ham các nghề có thể kiếm tiền ngay. Chúng chọn các ngành khoa học tuy có đánh vật với tiếng Anh nhưng cũng tốt nghiệp không mấy khó khăn. Vợ chồng cô gái lớn đã ra kỹ sư công chánh làm cho quận hạt dưới San Diego. Hai ông bách khoa như rồng gặp mây, chỉ hai năm ở đại học cộng đồng chuyển thẳng lên UC Berkeley. Một ông xong cao học về cơ khí, ông kia xung hơn lấy luôn hai bằng M.S. vừa cơ khí vừa Computer Science, cả hai đều làm cho bên quân đội. Hai đứa út một trai, một gái cũng xong cử nhân ngành Hóa và có việc làm ổn định dưới L.A.
Nói chung về mặt học hành anh chị em thằng lính đỏ thuộc loại thành đạt ở Mỹ, đem lại sự an ủi cho gia đình và hãnh diện chung cho cánh con cái của các ông lính xanh diện H.O.

Nhưng đáng nể nhất là ông già gân. Dù tuổi cao, chia trí với trăm thứ bà giằng, chuyện nhà bên Mỹ, chuyện thằng con bên mình, vậy mà ông vẫn đi học full-time lấy luôn hai bằng B.A. về Pháp ngữ và Political Science trong vòng 5 năm. Pháp ngữ thì coi như học lại, ông có phần “trội” hơn giảng viên, mất thì giờ là cho môn học kia. Học tiếp lên Cao học về Bang giao quốc tế được hơn một năm thì ông nghỉ vì mấy loại bệnh của tuổi già. Nghỉ thì nghỉ nhưng tôi biết ông vẫn còn thích học.  Ông vốn khiêm tốn về nhân cách, nhưng lúc học hành cũng hay làm thầy bà nhức đầu, vì có lối tranh luận khác đời, cứ hỏi các bạn cùng lớp ở Cal State /San Bernardino thì rõ.

Người chót được nhắc đến, nhưng không chót về vai vế, đó là bà ‘mẹ thương binh’. Trước sau bà vẫn là người cầm càng trong cái gia đình đông con này. Như đã nói từ đầu, ngựa hay đường dài cũng thấm mệt, thân cò lặn lội mãi cũng có lúc tiêu.  Bà bị suy thần kinh, suy tim xuống sức.  Sau khi thay bốn van tim, bà trở thành diện mất sức khi tuổi chưa đầy 60. Nhớ lúc đưa vô nhà thương trong tình trạng trụy tim, bà từ chối giải phẫu, không chịu ký đơn, bảo ông mời cha xứ đến viện cớ đã thấy thiên thần, phần đời sống thế đủ rồi.  Đứa gái út khóc quá sợ mẹ đi luôn.  Động tình mẫu tử bà đổi ý.  Ấy thế mà số Trời cho sống là sống, nay đã thêm được mười năm và khi hiệu đính những dòng này tôi được ông báo cho biết bà vừa về nước Chúa.
*
Chuyện gia đình thằng lính đỏ xem ra trên đất Mỹ chẳng có gia đình nào có cùng hoàn cảnh.  Số phận, dòng đời, ngọt bùi, cay đắng, phước họa khôn lường như đan quyện vào nhau, tưởng có lúc không ngóc lên được. Nhưng gia đình nó đã sống sót.

Bằng sự thành đạt qua quá trình hội nhập nơi đất mới, anh em nó đã trải nghiệm được cái giá của tự do để cùng bố mẹ chúng nối lại được nhịp cầu của cảnh đời đứt quãng. Tất nhiên thế mạnh của đức tin là một yếu tố không thể thiếu, như ông già gân có lần chia xẻ với tôi trước ngày xa xứ.: “ Sức người có hạn, phải có sức mạnh của tâm linh mới vượt qua nghịch cảnh của đời này.” Câu nói ấy đối với tôi giờ này vẫn còn chí lý.

Đỗ Xuân Tê
(viết lại như tấm hương lòng gởi bà chị Huệ)
Nguồn: T. Vấn & Bạn Hữu

Monday, January 27, 2020


Tại sao có Việt Kiều bỏ Mỹ quay về sau vài tháng định cư?
Thursday, May 16, 2019
Tại sao có Việt Kiều bỏ Mỹ quay về sau vài tháng định cư?


Thực tế, không có ít người sau khi qua Mỹ đã lẳng lặng quay trở về Việt Nam chỉ sau vài tháng hoặc thậm chí có người trở về nước ngay sau 1 tháng. Họ bỏ hết công sức, tiền của để chuẩn bị cho kế hoạch định cư Mỹ, quay trở về Việt Nam mang theo nỗi bực tức hay thậm chí là thù hận với xứ này. Vậy lý do gì khiến họ có quyết định gấp gáp như vậy, trong khi có biết bao người vẫn đang tìm mọi cách để có thể đặt chân tới nước Mỹ?
Đây là câu hỏi vô cùng nhạy cảm, nếu mà thẳng thắn trả lời thì sẽ đụng chạm tới không ít người. Cho nên, những chia sẻ sau đây của tôi, nếu có lỡ trùng hợp với hình bóng của quý vị nào trong đó, mong mọi người bỏ qua. Bởi lẽ tôi chỉ muốn mang những câu chuyện mà bản thân mắt thấy tai nghe, những điều bản thân đã trải nghiệm thực tế để giúp những người đến sau có cái nhìn tổng thể hơn về cuộc sống Mỹ.

Ai trong chúng ta khi đã qua Mỹ định cư chắc hẳn đều hiểu rõ sự vất vả, khổ cực trong quá trình chuẩn bị. Có những người mòn mỏi chờ đợi để được sang Mỹ theo diện nọ, diện kia, có người thậm chí còn chờ đợi tới hơn 10 năm. Trong suốt thời gian đó, dường như tâm trạng chẳng thể tập trung làm được điều gì, lúc nào cũng chỉ nghĩ tới lúc được đặt chân lên xứ Mỹ, lúc mà ‘giấc mơ Mỹ’ thành hiện thực.
Hoặc có những người cũng chẳng coi Mỹ là giấc mơ, mà chỉ đơn giản là nơi họ nghĩ có thể đổi đời. Bao nhiều mong mỏi như vậy, cuối cùng có người lại vẫn quay về Việt Nam chỉ sau vài tháng. Tuy nhiên, điều đáng mừng ở đây là con số người quay trở về cũng không nhiều, nếu tính ra tỉ lệ phần trăm thậm chí còn chưa tới 10%.

Bản thân tôi đã được tiếp xúc trực tiếp với 6 trường hợp như vậy và may mắn là họ đều cởi mở chia sẻ thật lòng. Câu trả lời của họ đa phần có nét giống nhau, vậy nên tôi xin phép gom lại thành một số vấn đề chính như sau. Đầu tiên, họ cảm thấy không có một sự yên tâm về cuộc sống ổn định lâu dài và cũng không nhận được sự giúp đỡ tận tình từ phía gia đình bên Mỹ.

Tôi nghĩ rằng đó là những người kì vọng quá nhiều về cuộc sống bên đây, kì vọng về sự giúp đỡ nhiệt tình của gia đình mà không biết rằng ở xứ Mỹ, nếu mình không tự lo cho mình thì chẳng ai có thể lo cho mình. Do đó khi sang đây, nhận được sự giúp đỡ hời hợt cho có của gia đình, họ sẽ cảm thấy thất vọng, chán nản và đương nhiên sẽ quay trở về Việt Nam.
Hoặc đôi khi sang bên đây, tận mắt chứng kiến gia đình người thân bên này quá khổ, họ đâm ra sợ hãi rằng không thể bám trụ nổi ở xứ Mỹ này. Từ đó họ vô hình chung kéo theo bao nỗi sợ khác, sợ không tìm được việc, sợ không nói được tiếng, sợ không kiếm ra tiền. Hàng ngày họ chỉ có biết tiêu tiền và tiêu tiền mà không thể tìm nổi định hướng cho tương lai. Cứ như vậy, họ nghĩ rằng tương lai sẽ khổ sở hơn rất nhiều so với ở quê hương, họ đành trở về Việt Nam.

Trường hợp thứ 2 và phổ biến hơn cả thường là do xích mích với gia đình. Những người mới qua đây, ai cũng chỉ biết bám víu vào người thân bên này, nhưng khi qua rồi mới biết mọi chuyện không dễ dàng như vậy. Có người đi theo vợ, theo chồng qua Mỹ, tưởng như cuộc sống sẽ được no đủ, sẽ có người để dựa vào, nhưng ngờ đâu cuộc sống ở xứ này, ai cũng phải tự lực hết.
Hay đau lòng hơn là cha mẹ già tưởng được con cái đón qua để phụng dưỡng, nào ngờ đâu lại phải trông cháu, trông nom nhà cửa, rồi hàng ngày còn phải chịu đựng những lời khó nghe. Tôi chứng kiến không ít trường hợp những người già vẫn cặm cụi đi lao động khổ cực hàng ngày để kiếm từng đồng một vì không muốn mang tiếng ‘ăn bám’ con cái.

Lý do thì là như vậy, còn hậu quả khi bỏ về sẽ ra sao? Điều đầu tiên dễ nhìn thấy nhất chính là việc đổ vỡ tình cảm gia đình, anh chị em thì trở mặt với nhau, cha mẹ từ con cái, con cái từ cha mẹ, vợ chồng thì sứt mẻ tình cảm không thể hàn gắn được. Rồi tự nhiên giấc mơ Mỹ lại trở thành một điều gì đó xa vời, tan tành thành mây khói. Chưa kể bao nhiêu tiền của, công sức để chuẩn bị qua Mỹ cũng tan tành theo hết.

Vậy làm sao để có thể tránh được những trường hợp như vậy? Thực lòng tôi muốn khuyên quý vị, đặt chân được tới xứ Mỹ không phải điều gì dễ dàng, nếu đã làm được hãy trân trọng cơ hội đó.
Muốn vậy, ngay lúc ban đầu, quý vị đừng có hy vọng quá nhiều vào cuộc sống bên đây vì càng hy vọng nhiều sẽ lại càng thất vọng thêm mà thôi.
Thứ 2, hãy luôn chuẩn bị sẵn sàng cho kế hoạch 2 để nếu như không có duy trì được cuộc sống ở Mỹ, mình còn có 1 con đường để lui.
Cuối cùng, nếu đã sang Mỹ định cư thì phải nhập gia tùy tục, phải chấp nhận cuộc sống Mỹ, văn hóa Mỹ, phải tự biết thay đổi bản thân cho phù hợp với cuộc sống bên này. Nếu làm được vậy, tôi tin chắc rằng quý vị sẽ tự làm chủ được cuộc sống của mình mà không cần lệ thuộc bất cứ ai, bất cứ điều gì.

Theo CuocSongUc
Posted by hoangsaparacels.blogspot.com at 10:24 AM

Sunday, January 26, 2020


Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời

mardi 25 février 2014
Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời Tác giả: Dale Carnegie Dịch giả: Nguyễn Hữu Kiệt
Những Bí Ẩn Của Cuộc Đời

Tác giả: Dale Carnegie
Dịch giả: Nguyễn Hữu Kiệt

Theo giáo lý Gia Tô, thì tánh kiêu ngạo là một trong bảy điều tội lớn nhất của con người. Cũng như những tính điều khác trong đạo Gia Tô điều này rất lý thú, nhưng dường như hơi cách xa những vấn đề thật tế về sự đau khổ của nhân loại. Tuy nhiên, chúng ta chấp nhận những bằng chứng trong cuộc *** kiếp của ông Cayce, thì sự kiêu ngạo có thể tạo nên nghiệp quả đau đớn xác thân, nhất là khi nó biểu lộ bằng sự chế diễu hay sự khinh bỉ. Một cái cười độc ác hay những lời dèm pha, chỉ trích, chê bai dường như gây một cái nhân tương đương với một hành động bạo tàn, và sẽ mang đến cái quả báo dội ngược: Người chế nhạo sẽ bị một thứ bịnh tật, tai ương, đau khổ giống như của người bị y chế diễu! Những hồ sơ Cayce có ghi chép bảy trường hợp mà những bệnh tật đau khổ nặng nề có thể truy nguyên ra từ những hành động chế nhạo kể trên. Có điều hơi lạ, là sáu trường hợp trong số đó xảy ra trước hết ở La Mã, trong thời kỳ khủng bố đạo Gia Tộ Về điểm này một lần nữa, chúng ta lại thấy những nhóm linh hồn thuộc về một thời kỳ lịch sử, tái sinh trở lại cõi trần đồng một lượt ở một thời kỳ khác. Trong số đó có ba trường hợp về bịnh bại liệt.

Trường hợp thứ nhất là của một người đàn bà bốn mươi lăm tuổi, có ba người con; chồng bà ấy làm một nghề tự do. Năm ba mươi sáu tuổi bà bị bại liệt cả hai chân và không thể đi đứng vận động gì được. Từ khi đó, bà vẫn ngồi trên một chiếc xe lăn và phải có người đỡ mỗi khi muốn cử động. Cuộc *** kiếp cho biết nguyên nhân bịnh trạng của bà là một tiền kiếp dưới thời Đế Quốc La Mã. Hồi đóm bà là một người trong dòng dõi quý tộc của triều đại vua Néron và trực tiếp tham gia khủng bố những người theo đạo Gia Tộ Cuộc *** kiếp nói: "Linh hồn này đã cười khi thấy những người bị hành hình trong vũ trường, và bây giời y phải chịu cảnh đau khổ tương tự như của những người ấy!"

Trường hợp thứ hai, có lẽ là trường hợp đau khổ nhất trong tập hồ sơ Cayce, là của một người đàn bà ba mươi bốn tuổi, bị bệnh bại liệt từ lúc sáu tuổi, làm cho bà bị què chân và xiêu vẹo xương sống. Người cha chẳng những rất thản nhiên với bịnh trạng của bà, mà còn lấy hết tiền bạc của bà dành dụm được nhờ nuôi gà vịt kiếm lời. Số phận của bà càng hẩm hiu hơn nữa vì hai cuộc tình duyên đau khổ. Người yêu đầu tiên bị tử trận trong cuộc Thế Chiến Thứ Nhất. Sau đó bà đính hôn với một người đàn ông khác, nhưng người này bị đau nặng và vừa khi khỏi bịnh xong thì liền cưới ngay cô nữ y tá đã săn sóc y trong nhà thương! Ngoài ra những đau khổ về thể xác và tình cảm trên đây, còn thêm nào là đời sống cô độc ở quê, và một lần té ngã trên những bực thang bằng đá, làm cho bà phải nằm liệt giường và bị thêm một tật khác ở xương sống:
Người ta không thể tưởng một cuộc đời đau khổ hơn nữa!
Nguyên nhân của bệnh trạng này thuộc hai kiếp về trước ở đế quốc La Mã. Cuộc *** kiếp nói: "Linh hồn này thuộc về giòng dõi nhà vua Palatius, và thường đến vũ trường xem những cuộc đấu võ giữa hai tội nhân, hoặc giữa một tội nhân với một thú dữ. Sự đau khổ hiện thời một phần lớn là vì bởi y đã cười cợt một cách khinh bỉ trước sự yết đuối bất lực của những kẻ tù nhân bị thú dữ xé xác trong vũ trường!"

Trường hợp thứ ba là của một nhà sản xuất phim ảnh, bị chứng liệt bại từ khi lên mười bảy tuổi, và hiện thời hãy còn có tật ở chân. Nguyên nhân cũng là vào thời kỳ chống đạo Gia Tô ở đế quốc La Mã. Cuộc *** kiếp cho biết:
"Linh hồn này thuở xưa làm lính đao phủ quân của nhà vua, và đã cười cợt chế nhạo những kẻ tỏ dấu sợ sệt hoặc những người bị ngã quị trong võ trường dưới ngọn đao hành tội của y. Y đã gây ác quả không phải vì y làm phận sự của người đao phủ, mà vì y đã khinh bỉ chế nhạo những người theo một lý tưởng tôn giáo. Trong kiếp này, một xác thể tàn tật đem cho y cái kinh nghiệm cần thiết để làm thức động Chân Tánh và phát triển những sức mạnh tâm linh tiềm tàng của ỵ"

Dưới đây là bốn trường hợp lý thú mà sự chế nhạo lại bị những quả báo khác hơn là bịnh liệt bại. Một là trường hợp của một thiếu nữ bị chứng lao xương háng. Trong kiếp trước đây, cô có mặt trong nhóm người đầu tiên đến khai thác thuộc địa ở Bắc Mỹ. Tuy nhiên, bịnh trạng của cô được truy nguyên ra ở một kiếp trước nữa ở La Mã. Hồi đó, cô thuộc giồng quý tộc dưới triều vua Néron, và hay mua vui bằng cách đến xem những cảnh hành đội người Gia Tô Giáo trong các vũ trường. Cảnh tượng một thiếu phụ bị móng vuốt sư tử cào rách một bên hông đã làm cho đương sự vô cùng vui thích và cười đùa một cách khoái trá!

Đây là một trường hợp khác: Một thiếu nữ kia mới mười tám tuổi đáng lẽ ra có một vẻ đẹp quyến rũ, nếu cô không bị phát phì! Các bác sĩ y khoa nói rằng đó là do bộ hạch óc làm việc quá độ. Cuộc khám bịnh bằng Thần Nhãn của ông Cayce cũng xác nhận có sự sai lệch trong sự hoạt động của hạch và phát phì của cô ta là một chứng bịnh về nhân quả. Hai kiếp trở về trước, cô là một lực sĩ ở thành La Mã, có tiếng về khoa điền kinh và vẻ đẹp cân đối của thân hình. Nhưng y hay chế nhạo những tay lực sĩ khác nặng cân hơn và thua kém y về sự khéo léo lanh lẹ.

Trường hợp thứ ba là của một thanh niên hai mười mốt tuổi, theo đạo Gia Tộ Cha mẹ y muốn cho y sau này trở nên một giáo sĩ; nhưng y thấy rằng nghề ấy không đúng với sở thích của ỵ Y bèn từ chối không chịu nghe theo. Tật xấu lớn nhất của y là tật đồng tình luyến ái (yêu bạn trai hay bạn gái cùng đồng một nam tính hay nữ tính với mình: Homosexualité). Y bèn yêu cầu ông Cayce *** kiếp, và được biết rằng trong một tiền kiếp dưới một triều vua ở nước Pháp y là một họa sĩ chuyên môn về lối vẽ hoạt kê hài hước. Bằng một nét bút chì sắc sảo và linh động, y hay vẽ những cảnh tượng luyến ái giữa những người đồng tình với nhau để làm trò cười cho thiên hạ. Cuộc *** kiếp luận như sau: "Anh chớ lên án kẻ khác nếu anh không muốn bị lên án. Anh cười người khác bao nhiêu, anh sẽ phải bị người cười bấy nhiêu, và anh lên án kẻ khác về cái tật nào, thì chính anh sẽ mắc phải cái tật đó!"

Trường hợp thứ tư là của một thiếu niên bị tai nạn xe hơi hồi mười sáu tuổi, làm cho y bị đứt tiện ngang tủy xương sống. Các bác sĩ chuyên môn nói rằng y sẽ không thể sống được, nhưng rốt cuộc y vẫn sống sót. Y hoàn toàn bại liệt cả nửa thân mình, từ đốt xương sống thứ năm trở xuống và kể từ khi đó y không hề rời khỏi chiếc xe lăn. Lúc y được 33 tuổi, 17 năm sau khi tai nạn xảy ra, mẹ y yêu cầu ông Cayce *** kiếp cho ỵ Cuộc *** kiếp cho biết rõ hai tiền kiếp: Một kiếp hồi thời kỳ Cách Mạng ở Bắc Mỹ, trong khi đó y phục vụ trong quân đội và tỏ ra là một sĩ quan ưu tú và can đảm. Do kinh nghiệm trong kiếp đó mà kiếp này y có được những đức tính kỷ luật, trật tự, yêu đời và khả năng quyền biến. Trong kiếp trước nữa ở La Mã vào lúc bắt đầu Tây lịch kỷ nguyên, y đã tạo ra cái nguyên nhân của thảm trạng hiện tại. Hồi đó y là một người lính trong đạo binh La Mã và lấy làm khoái trá mà nhìn thấy những sự đau khổ của những người theo đạo Gia Tô bị hành hình ở pháp trường. Y đã từng đấu sức trong vũ trường, và về sau y nhìn xem những kẻ địch thủ của y đối chọi với các thú dữ. Y đã nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng tàn ác, gây sự đau khổ chết chóc, nhưng y không chút động lòng. Kết quả là trong kiếp này y nhìn thấy sự đau khổ ở chính mình, và y cũng phải tập nhìn nó một cách thản nhiên nhưng với một mục đích khác hẳn: Quả báo này có cái tác dụng sâu xa là nhờ sự đau khổ, y sẽ cảm thấy rằng sự tín ngưỡng tôn giáo mà y diễu cợt nhạo báng trước kia, nay đã đột khởi ở trong linh hồn y để bù lại những gì y đã tạo ở kiếp trước.

Có điều lý thú là trong những trường hợp kể trên, gồm có ba người bị liệt bại từ nhỏ, một người bị bịnh lao xương háng, một người phát phì, một người có tật đồng tính luyến ái, một người dập tủy xương sống, tất cả là bảy người nhưng không có trường hợp nào là bịnh di truyền. Trong mỗi trường hợp, bịnh trạng chỉ xuất hiện sau khi đương sự đã sinh ra đời, ở vào khoảng giữa năm lên một và năm lên 36 tuổi. Trong một trường hợp, bịnh tật do tai nạn xe hơi gây nên, Dầu rằng thế nào, đằng sau cái nguyên nhân hiển hiện, còn ẩn khuất một nguyên nhân sâu xa hơn. Cái định mệnh lạ lùng nó đặt để rằng trong một tai nạn xe cộ, có người thiệt mạng, có người lại sống sót, có người bị thương tích nặng nề, có người lại không bị một vết trầy da, thường được coi như một sự may rủi, tình cờ. Nhưng nếu ta xét những trường hợp kể trên thì thấy rằng dường như có sự hành động của một bàn tay vô hình, dầu rằng trong sự hỗn loạn của một tai nạn xảy ra bất thình lình, và như thế những quả báo xảy đến đều đúng luật công bình, không mảy may sơ sót.

Mới nghe qua những trường hợp kể trên, người ta thấy rằng dường như những quả báo xảy đến có vẻ quá nặng nề đối với một viếc không quan trọng như là một tiếng cười, nhưng nếu chúng ta suy xét kỹ thì sẽ thấy quả có sự công bằng.

Một người đùa cợt nhạo báng trước sự đau khổ của kẻ khác tức là y kết án người này về những hoàn cảnh trái ngược của họ mà y không hề hiểu biết được cái lý do ẩn tàng. Y khinh bỉ cái quyền tự do của người khác, dầu cho đó là cái tự do lỗi lầm mà mỗi người đều có thể rút những bài học kinh nghiệm lấy cho mình. Y chà đạp, dày xéo cái nhân vị, cái giá trị và tính cách thiêng liêng của mỗi linh hồn, dầu rằng linh hồn ấy có rơi vào sự đớn hèn, da đọa hay lố bịch chăng nữa. Ngoài ra, y còn tự tôn và cho rằng mình cao hơn kẻ mà y chế diễu đùa cợt. Trong sự chế diễu đùa cợt, có một hình thức tự tôn rá6t bỉ ổi làm cho đương sự cách biệt rất xa với tình bác ái đại đồng giữa nhân loại và vạn vật. Những điều kể trên làm cho ta phải nhớ đến những giáo lý răn dạy người đời, được chứa đựng trong một quyển sách về đạo lý cổ truyền. Chúng ta bắt đầu nhận thấy rằng thật là hữu phước thay cho người nào thoát khỏi được cái thói xấu hay nhạo báng đùa cợt. Tác giả bộ Thánh Thi đã tỏ ra có một bản năng sáng suốt khi người thốt ra những lời này: "Tôi sẽ thắng dây cương ở đôi môi của tôi để khỏi phải gây tội lỗi vì cái lưỡi."

"Người chớ xét đoán kẻ khác nếu ngươi không muốn bị người xét đoán! Vì ngươi sẽ bị kết án cũng như ngươi đã kết án kẻ khác vậy."

Đức Jesus cũng nói rằng: "Kẻ nào mắng người khác là "Đồ ngu!" sẽ bị thiêu đốt dưới ngọn lửa Địa ngục!"

Xét về những trường hợp mà sự chế nhạo đùa cợt bị mang lấy quả báo vô cùng thảm khốc như đã kể trên, thì lời nói của đức Jesus hẳn là có một ý nghĩa sâu xa thâm trầm về phương diện tâm lý vậy.
Publié par Anonyme à mardi, février 25, 2014

Saturday, January 25, 2020


Hôm nay là mồng 1 Tết Canh Tý, xin kính chúc các bạn bè trên mạng:

Một Năm Mới được “Vạn Sự Như Ý”

Phần của tôi, xin tặng quý bạn một món quà nhỏ. 
Đó là bản dịch của tác phẩm: “Le Moine et le Philosophe”. 


Như đường dẫn ở phần dưới: Khi tôi làm được ½ thì thấy quảng cáo tác phẩm cùng tên của ni sư Thích Trí Hải. 
Tôi tiếp tục công việc làm dở, và chỉ lưu giữ trên trang nhà của tôi ở: " http://vanhocvietnam.0catch.com/".
Khi trang này bị đóng vì không còn host free, tôi dời về trang Blog hiện nay: https://nuocnha.blogspot.com
Bài mới chỉ là 1 bài dài, không được chia thành nhiều phần như trước. Các bạn nào không muốn mua sách thì có thể đọc ở đây.
Sơ lược quyển sách là cuộc đàm luận của Jean-François Revel  (một triết gia của hàn lâm viện Pháp) và con mình là Matthieu Ricard, người đã bỏ hết tương lai đã dọn sẵn cho mình trong một gia đình danh tiếng để trở thành một tu sĩ Phật giáo.

Sau là các đoạn chính của tác phẩm

Tôi còn nhớ Mathieu có đề cập đến việc Tàu cộng đã phá hủy hơn 3000 ngôi chùa của Tây Tạng. Mỗi chùa có cả trăm tu sinh.

Nhân đây tôi đề cập sơ qua về việc loài người làm gì với xác chết của đồng loại:
1/ Chúng ta quá quen thuộc với việc chôn cất kẻ quá cố, đó là "Thổ táng";
2/ Khi đi biển nếu có ai mất thì nh đại dương lo dùm, đó là "Thủy táng";
3/ Ngày nay việc đem thiêu đang là một trào lưu, đó là "Hỏa táng". Người Ấn làm một lúc 2 việc: Hỏa táng xong thì hất phần còn lại xuống sông Hằng!
4/ Với người Tây Tạng họ không thể làm các việc trên vì:
a/ Đất gần như là đá, không thể đào huyệt được,
b/ Không thể thả trôi sông để làm ô nhiễm môi trường của họ + của nhân loại ở cuối dòng.
c/ Vì không có cây cối, nên không thể đốt như người Ấn.
Họ phải làm một việc là: chặt nhỏ xác kẻ xấu số rồi cho Kên Kên ăn dùm: "Điểu táng".
Hy vọng giúp các bạn tiêu khiển 3 ngày Tết.

Sau là đường dẫn về bài dịch của tôi: