Monday, September 3, 2018

Vua Thành Thái

Cách nay đúng 111 năm, vua Thành Thái phải ký chiếu thoái vị

Ngày 03 tháng 09, 1907


Thành Thái

Thành Thái Đế
成泰帝
Tại vị                    2 tháng 2 năm 1889 - 3 tháng 9 năm 1907, (18 năm, 213 ngày)

Tiền nhiệm         Đồng Khánh
Kế nhiệm            Duy Tân

Thông tin chung
Hậu duệ              16 hoàng tử và nhiều công chúa
Tên húy               Nguyễn Phúc Bửu Lân, (阮福寶嶙)
Niên hiệu            Thành Thái (成泰)
Thụy hiệu           Hoài Trạch Công (懷澤公)
Triều đại             Nhà Nguyễn
Hoàng gia ca       Đăng đàn cung
Thân phụ             Dục Đức
Thân mẫu            Từ Minh Huệ hoàng hậu
Sinh                     14 tháng 3 năm 1879, HuếĐại Nam
Mất                      20 tháng 3, 1954 (75 tuổi), Sài GònQuốc gia Việt Nam
An tang              An Lăng

Thành Thái (chữ Hán: 成泰14 tháng 3 năm 1879 – 20 tháng 3 năm 1954), tên khai sinh là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), là vị Hoàng đế thứ 10 của triều đại nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907.
Do chống Pháp nên ông, cùng với các vua Hàm Nghi và Duy Tân, là 3 vị vua yêu nước trong lịch sử Việt Nam thời Pháp thuộc bị đi đày tại ngoại quốc. Ông không có miếu hiệu.
 Thuở nhỏ
Thành Thái tên thật là Nguyễn Phúc Bửu Lân (阮福寶嶙), còn có tên là Nguyễn Phúc Chiêu (阮福昭). Ông là con thứ 7 của vua Dục Đức và bà Phan Thị Điều, sinh ngày 22 tháng 2 năm Kỷ Mão, tức 14 tháng 3 năm 1879 tại Huế. Ông còn là cháu nội Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y, và là chắt vua Thiệu Trị.


vua Dục Đức
vua Thiệu Trị

Năm ông bốn tuổi, vua cha Dục Đức bị phế và chết trong tù. Đến nǎm được chín tuổi, vì ông ngoại là Phan Đình Bình (làm quan Thượng thư bộ Hộ) bị vua Đồng Khánh bắt giam rồi bỏ cho chết, vì mắng Đồng Khánh, nịnh bợ và thân Pháp, khi Đồng Khánh ra Quảng Bình dụ vua Hàm Nghi đầu hàng. Bửu Lân lại phải cùng mẹ Từ Minh, lên kinh đô, chịu sự quản thúc, sống trong cảnh thiếu thốn.

Đồng Khánh (chữ Hán: 同慶; 19 tháng 2 năm 186428 tháng 1 năm 1889)

Ngày 28 tháng 1 năm 1889, vua Đồng Khánh lâm bệnh qua đời. Khi đó con vua Đồng Khánh là Bửu Đảo mới 3 tuổi nên không nối ngôi được, triều đình Huế xin ý kiến của Tổng sứ Trung Bắc kỳ Pierre Paul Rheinart. Ở tòa khâm sứ lúc này có ông Diệp Văn Cương đang làm thông ngôn. Diệp Vǎn Cương lấy bà cô ruột của Bửu Lân, và cũng có cảm tình thương hại vua Dục Đức, nên cố tìm cách cho cháu mình lên ngôi. Ông dịch cho Khâm sứ Rheinart nghe hoàn toàn khác với ý của Viện cơ mật. Vì thế Bửu Lân được chọn lên ngai vàng. Bà Phan Thị Điều nghĩ tới cảnh vua Dục Đức và thảm kịch bốn tháng ba vua trước đây nên khóc lóc, không đồng ý, phải khuyên giải mãi mới ưng thuận.
Cai trị

Lên ngôi

Ngày 2 tháng 2 năm 1889 Bửu Lân lên ngôi lấy hiệu là Thành Thái. Khi đó Bửu Lân mới 10 tuổi. Triều Thành Thái khác các triều trước ở chỗ lễ đǎng quang không có Truyền quốc bửu tỷ ấn ngọc. Lúc trước, khi rời khỏi kinh thành Huế, vua Hàm Nghi đã mang theo và đánh mất tại tỉnh Quảng Bình. Cho nên lúc tại vị vua Đồng Khánh đã phải dùng một ấn ngọc khác. Ngoài ra, di chiếu cũng không có. Vua Dục Đức hay vua Đồng Khánh không truyền ngôi lại cho vua Thành Thái. Không ấn ngọc, không di chiếu, nhưng lại có một toán lính Pháp bồng súng đóng ở bên trong cửa Ngọ Môn.

Chân dung Đức Thành Thái

Thành Thái là một ông vua trẻ có nhiều tính cách đặc biệt. Những ngày đầu tiên, tuy đã là vua nhưng vì còn bé nên ông vẫn thích chơi bời, nghịch ngợm. Một số quan phụ chính giúp đỡ như Tuy Lý Vương, Nguyễn Trọng, Trương Quang Đản, thường có lời can ngǎn ông, nhưng không được ông nghe lời.

Chân dung Tuy Lý vương Miên Trinh

Các bà hậu ở Lưỡng cung rất lo cho Thành Thái, đã bắt ông ra ở đảo Bồng Dinh trên hồ Tịnh Tâm và quản thúc ông rất ngặt, để đưa vào khuôn phép. Một thời gian sau, ông mới trở về Đại Nội.


Hoàng thành Huế

Thành Thái được đánh giá là người cầu tiến, yêu nước và chống Pháp. Khác với những vị vua trước đây, ông học chữ Nho, học tiếng Pháp và cũng cho cả con cái của mình cùng theo học chữ Pháp. Không nói ra, nhưng rõ ràng ý định của ông là học chữ Pháp để có thể giao tiếp với những người này với tinh thần chống Pháp. Ông còn cắt tóc ngắn, mặc âu phục, học cả lái ca nô, xe hơi, làm quen với vǎn minh phương Tây.
Là vị vua gần gũi với dân chúng, ông thường xuyên đi vi hành. Thành Thái cũng cho phép hoàng phi bị cấm cung đi cùng với mình bằng xe. Và lần đầu tiên "dân chúng quên cả nhìn mặt vua, lúc này không bị tội phạm tất". Dân gian lúc này có một câu ca dao nói về sự vi hành của vua Thành Thái:
Kim Long có gái mỹ miều
Trẫm thương, Trẫm nhớ, Trẫm liều, Trẫm đi
Ông để ý đến cả các loại vũ khí, đã giao cho họa sĩ Lê Vǎn Miến (tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Paris) vẽ cho ông các khẩu súng Pháp. Vua Thành Thái rất thích đọc những tân thư chữ Hán của Trung QuốcNhật Bản. Nhờ đó vua có tinh thần tự cường dân tộc và đầu óc cải cách. Thành Thái làm thơ không nhiều, nhưng có những bài xuất sắc. Ông cũng ham vǎn nghệ, đánh trống tuồng khá thành thạo, có khi lên đóng một vài vai tuồng ở Duyệt Thị Đường. Có thể nói Thành Thái là hiểu biết khá toàn diện.

Tinh thần chống Pháp

Thành Thái dần dần bộc lộ tinh thần dân tộc rất cao. Ông khinh ghét những bọn quan lại xu phụ. Một viên quan lớn là Nguyễn Thân đã tiến con gái đến cho vua (là đệ nhất giai phi của Thành Thái) song cũng không được ông trân trọng. Có lần, cầu Long BiênHà Nội, được lấy tên Toàn quyền Pháp Doumer, xây dựng xong, Hoàng Cao Khải đưa ra một danh sách xin nhà vua ban thưởng cho những người có công, nhà vua đã cười nhạt mà trả lời:
"Ta có biết mặt mũi những đứa nào đâu".


Hoàng Cao Khải (chữ Hán: 黃高; 18501933), là nhà văn, nhà sử học và là đại thần thân Pháp dưới triều vua Thành Thái trong lịch sử Việt Nam.

Những người Pháp thường xuyên gần gũi không được ông trọng thị lắm vì vậy họ thường có thành kiến với ông. Có những tài liệu nói là nhà vua đã toan bí mật sang Trung Quốc, nhưng mới đi đến Thanh Hóa đã bị người Pháp ngǎn chặn. Lại có ý kiến cho rằng ông đã đồng tình giúp đỡ tạo điều kiện cho Cường Để xuất dương theo Phan Bội Châu sang Nhật.

Kỳ Ngoại Hầu Cường Để chụp lúc về già tại Nhật. Ảnh tư liệu của Nguyễn Đắc Xuân.

Phan Bội Châu (chữ Hán: 潘佩珠; 18671940) là một danh sĩ và là nhà cách mạng Việt Nam, hoạt động trong thời kỳ Pháp thuộc.

Dưới triều Thành Thái tuy vẫn còn có những cuộc vận động chống Pháp, nhưng nhìn chung Việt Nam cũng đã đi vào ổn định, nên đã có nhiều công trình mới được xây dựng. Nhất là ở kinh đô Huế, các bệnh viện, trường Quốc học, chợ Đông Ba, cầu Tràng Tiền... đều được xây dựng vào thời kỳ này. Như trường hợp trường Quốc học Huế năm 1896, chính nhà vua đã gợi ý vấn đề thành lập với Thượng thư Ngô Đình Khả. Chính quyền thực dân Pháp phải đồng ý cho tiến hành những công trình đó.

Ngô Đình Khả (1850–1925) là một quan đại thần nhà Nguyễn.

Vua Thành Thái còn bí mật lập các đội nữ binh để che mắt Pháp. Một số tài liệu ghi rằng vua đã chiêu nạp được 4 đội, mỗi đội 50 người, đội trước huấn luyện xong thì trở về gia đình và nạp đội mới, khi có thời cơ sẽ cùng nổi dậy chống Pháp. Nhưng sự việc cuối cùng bị lộ khi Thượng thư Bộ Lại và Cơ mật viện báo cho Khâm sứ Pháp Levécque

Bị ép thoái vị
Trước các ý tưởng cấp tiến của Thành Thái, người Pháp lo ngại tìm cách ngăn trở. Để che mắt, Thành Thái giả hành động như một người mất trí. Khi các bản vẽ vũ khí của ông bị phát hiện, Thành Thái giả điên, cào cấu các bà cung phi và xé nát các bản vẽ. Lợi dụng cơ hội này, người Pháp vu cho ông bị điên, ép ông thoái vị, nhường ngôi cho con vì lý do sức khỏe. Khâm sứ Pháp còn nói thẳng là đã biết ông có ý đồ chống Pháp, nên không để ông ở ngôi được. Còn nếu Thành Thái muốn tại vị thì ông phải ký vào một tờ giấy xin lỗi, tuyên bố với quốc dân là có âm mưu chống lại nước Pháp, nay phải thành thực hồi tâm. Nhưng ông đã ném tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất, từ chối.

Ngày 29 tháng 7 năm 1907, nhân dịp Thành Thái không phê chuẩn việc bổ nhiệm một số quan lại đã được Khâm sứ Lévêque và Hội đồng Thượng thư thỏa thuận, Lévêque đã tuyên bố truất quyền và quản thúc Thành Thái trong Đại nội. Một Hội đồng Phụ chính do Trương Như Cương cầm đầu được thành lập.
Ngày 3 tháng 9 năm 1907, triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị, có chữ ký của các đại thần (trừ Ngô Đình Khả), với lý do sức khoẻ không bảo đảm, xin tự nguyện thoái vị. Xem xong bản dự thảo, Thành Thái chỉ cười, ghi ngay hai chữ "phê chuẩn" rồi quay lưng đi vào.

Điện Càn Thành trước năm 1811 có tên là điện Trung Hòa nằm trong Tử Cấm thành (Huế), đây là tư cung của vua triều Nguyễn. Công trình này đã trở thành phế tích sau khi bị đốt năm vào tháng 2, 1947.

Lưu đày
Bảo Đại và Thành Thái ở Đà Lạt năm 1951

Ngày 12 tháng 9 năm 1907, Thành Thái bị đưa đi quản thúc ở Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay). Đến nǎm 1916 ông bị đày ra đảo Réunion cùng với con trai là vua Duy Tân.


Duy Tân (chữ Hán: 維新; 19 tháng 9 năm 190026 tháng 12 năm 1945),

Ông cùng gia đình thuê một căn nhà ở thành phố Saint Denis tại đảo Réunion. Thành Thái và Hoàng phi Chí Lạc dạy các con tiếng Việt và cả những nhạc cụ dân tộc như đàn cò, sáo... Ông tự phân công cho tất cả những người con từ nhỏ đến lớn đảm nhận công việc trong gia đình. Các công chúa phụ mẹ việc bếp núc, làm vườn. Các hoàng tử, người thì làm cận vệ cho Thành Thái, người đảm nhận lo phần trầu cau, điểm tâm sáng, người phụ dọn dẹp nhà cửa...
Khác với vua Hàm Nghi khi bị đày ở Algerie trước đó, cuộc sống của cha con cựu hoàng Thành Thái khá chật vật. )

Hàm Nghi (chữ Hán: 咸宜; 3 tháng 8 năm 18724 tháng 1 năm 1943

Già cả ốm đau, con cái nheo nhóc, ông hoàng Bửu Lân nhiều lần bị chủ nhà đòi tiền thuê nhà, chủ nợ đòi nợ. Năm 1925, vua Khải Định biết tình cảnh ông, đã trích ngân sách gửi sang cho ông 1.000 đồng, rồi sau thỉnh thoảng lại cho tiền.

Vua Khải Định trong trang phục Tế Giao

Sau khi Khải Định mất, không còn khoản tiền đó nữa, nên ngày 21 tháng 9 năm 1935, Bửu Lân phải viết thư gửi vua Bảo Đại xin nhà nước Bảo hộ Pháp cho một khoản tiền để mua nhà, "hễ hết đời" ông thì nhà nước sẽ thu lại.


Bảo Đại (chữ Hán: 保大; 22 tháng 10 năm 191331 tháng 7 năm 1997)

Đầu tháng 5 năm 1945 (sau khi vua Duy Tân mất), nhờ sự vận động của con gái và con rể của ông, vợ chồng luật sư Vương Quang Nhường, cựu hoàng Thành Thái mới được cho về Việt Nam. Ông cùng gia đình sống ở Villa Anna tại Cap Saint Jacques (Vũng Tàu ngày nay).
Tháng 3 năm 1953, ông được phép về Huế thăm lăng tẩm cha mẹ.
Ông mất ngày 20 tháng 3 năm 1954 tại Sài Gòn và được an táng tại khuôn viên thành An Lăng (lăng Dục Đức) tại xã An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên, thọ 75 tuổi.

Lăng Dục Ðức tên chữ An Lăng(安陵) là một di tích trong quần thể di tích cố đô Huế, là nơi an táng vua Dục Ðức, vị vua thứ năm của triều đại nhà Nguyễn

Gia quyến
  1. Hoàng Quý phi Nguyễn Thị Vân Anh, con gái đại thần Nguyễn Thân, một người theo Pháp triệt để.Năm 1907, nhận sách phong Hoàng đích mẫu.
  2. Tài nhân Nguyễn Thị Định (1880 - 1972), người Bình Định. Năm 1907, nhận sách phong làm Hoàng sinh mẫu. Mẹ đẻ của Duy Tân và hoàng nữ Lương Nhân
  3. Huyền phi Nguyễn Hữu Thị Nga, con gái của Nguyễn Hữu Độ, là em của Phụ Thiên Thuần Hoàng hậu (chính thất của Đồng Khánh). Bà sinh hoàng tử Vĩnh Giác và hoàng nữ Lương Khanh. Tình sử của bà với Thành Thái, được lưu truyền qua 2 câu thơ: “Kim Long có gái mỹ miều – Trẫm thương, trẫm quý, trẫm liều trẫm đi”.
  4. Khoan phi Hồ Thị Phương. Sinh hoàng tử Vĩnh Kha, công chúa Lương Linh (mệ Sen).
  5. Tiết phi Đoàn Thị Châu, sinh hoàng tử Vĩnh Vũ.
  6. Thịnh tần Nguyễn thị, ghen tuông đố kỵ, gây chuyện đánh Tiệp dư Dương thị, bị giáng làm Tài nhân.
  7. Dịch tần Trương thị.
  8. Tiệp dư Dương thị.
  9. Mỹ nhân Nguyễn Thị Kiều, người làng Dạ Lê, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Sinh hoàng nữ Nguyễn Phúc Lương Trinh. Năm 1915, Thành Thái bị lưu đày, bà xuất gia ở chùa Tường Văn.
  10. Tài nhân Hồ Giai Triệu, tên thật là Công Tằng Tôn nữ Nhàn, chị ruột của thứ phi Chí Lạc, vai cô của Thành Thái.
  11. Tài nhân Hồ Chí Lạc, tên thật là Công Tằng Tôn nữ Mừng, vai cô của Thành Thái. Để giấu vụ này, Hoàng tộc đã đổi họ cho hai bà sang họ Hồ.
  12. Tài nhân Dương Thị Ngọt, người huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Do một lần nói vua cắt tóc ngắn nhìn giống kẻ cướp làm vua tức giận. Bị đuổi khỏi cung.
  • Con cái:
Vua Thành Thái có rất nhiều con, chưa được khảo sát đầy đủ. Tên các hoàng tử và công chúa do các tài liệu ghi lại còn nhiều mâu thuẫn.

Con trai

  1. Nguyễn Phúc Vĩnh Diễm (24 tháng 12 năm 1895 - 27 tháng 12 năm 1895).
  2. Nguyễn Phúc Vĩnh Linh (8 tháng 3 năm 1897 - 12 tháng 3 năm 1897).
  3. Nguyễn Phúc Vĩnh Trân (11 tháng 11 năm 1897 - 15 tháng 5 năm 1973).
  4. Nguyễn Phúc Vĩnh Uyển (21 tháng 7 năm 1899 - 24 tháng 7 năm 1899).
  5. Nguyễn Phúc Vĩnh San, tức Hoàng đế Duy Tân.
  6. Nguyễn Phúc Vĩnh Ngoạn.
  7. Nguyễn Phúc Vĩnh Kỳ.
  8. Nguyễn Phúc Vĩnh Chương (1907 - 1948), con bà Giai Triệu.
  9. Nguyễn Phúc Vĩnh Sâm (Thâm).
  10. Nguyễn Phúc Vĩnh Khuê (Quê).
  11. Nguyễn Phúc Vĩnh Giác, con bà Huyền phi.
  12. Nguyễn Phúc Vĩnh Kha, con bà Khoan phi.
  13. Nguyễn Phúc Vĩnh Vũ, con bà Tiết phi.
  14. Nguyễn Phúc Vĩnh Ngọc (28 tháng 7 năm 1906 - 31 tháng 1 năm 1909).
  15. Nguyễn Phúc Vĩnh Tiến.
  16. Nguyễn Phúc Vĩnh Lưu (1907 - 1948), con bà Chí Lạc.
  17. Nguyễn Phúc Vĩnh Quỳnh (1915), chết non, con bà Chí Lạc.
  18. Nguyễn Phúc Vĩnh Khôi (1919 - 1969), con bà Chí Lạc, sinh ở Réunion.
  19. Nguyễn Phúc Vĩnh Giu (1922 - 2007), con bà Chí Lạc, sinh ở Réunion.
  20. Nguyễn Phúc Vĩnh Khôi (đồng âm).
  21. Nguyễn Phúc Vĩnh Giêu (1924 - 2014), con bà Giai Triệu, sinh ở Réunion.
  22. Nguyễn Phúc Vĩnh Hoè.
  23. Nguyễn Phúc Vĩnh Cầu (1924 - ?), con bà Chí Lạc, sinh ở Réunion.

Con gái

  1. Nguyễn Phúc Lương Trinh, con bà Kiều.
  2. Nguyễn Phúc Lương Kiều.
  3. Nguyễn Phúc Lương Yên.
  4. Nguyễn Phúc Lương Xuân.
  5. Nguyễn Phúc Lương Huyên.
  6. Nguyễn Phúc Lương Viện.
  7. Nguyễn Phúc Lương Diệu.
  8. Nguyễn Phúc Lương Khanh, con bà Huyền phi.
  9. Nguyễn Phúc Lương Ngoạn.
  10. Nguyễn Phúc Lương Diên, lấy Lê Quang Thiết (chú ruột của bà Phi Ánh, thứ phi của Bảo Đại).
  11. Nguyễn Phúc Lương Nghiên.
  12. Nguyễn Phúc Lương Huyền.
  13. Nguyễn Phúc Lương Nhiêu.
  14. Nguyễn Phúc Lương Hân.
  15. Nguyễn Phúc Lương Tường.
  16. Nguyễn Phúc Lương Chuyên.
  17. Nguyễn Phúc Lương Nhân, con bà Định, em ruột Duy Tân. Lấy Vương Quảng Nhượng.
  18. Nguyễn Phúc Lương Tĩnh.
  19. Tảo thương.
  20. Nguyễn Phúc Lương Linh, tức “mệ Sen”, con bà Khoan phi.
  21. Nguyễn Phúc Lương Mỹ, con bà Chí Lạc.
  22. Tảo thương.
  23. Nguyễn Phúc Lương Cát.
  24. Nguyễn Phúc Lương Hảo, con bà Chí Lạc.
  25. Nguyễn Phúc Lương Hy.
  26. Nguyễn Phúc Lương Thâm, con bà Chí Lạc.
  27. Nguyễn Phúc Lương Hoàn.
  28. Nguyễn Phúc Lương Cầm, con bà Chí Lạc.
Chú thích
2.      ^ Nguyên văn chú thích ảnh X, phụ lục 4, "Giai thoại và sự thật về Bảo Đại- Vua cuối cùng triều Nguyễn", tác giả Lý nhân Phan Thứ Lang, NXb Văn nghệ, tái bản năm 2006
3.      ^ a ă â Nguyễn Phúc tộc Thế phả, Nhà xuất bản Thuận Hóa - Huế, 1995, tr.393
Liên kết ngoài

No comments:

Post a Comment