Cách nay đúng 49 năm, Mỹ có trận đánh mang tên “Đồi thịt bằm”
gần Thừa Thiên, nhưng ít tháng sau, họ bỏ vị-trí đó.
Ngày 20
tháng 05, 1969
·
1969 – Chiến tranh Việt Nam: Trận Đồi Thịt Băm tại Thừa
Thiên kết
thúc, Quân lực Hoa Kỳ chiếm
ngọn đồi nhưng phải bỏ lại vị trí này một tháng sau đó.
Trận Đồi Thịt Băm
U.S. Army Soldiers climb hill 937 at Dong Ap
Bia after the battle, May 1969
Trận Đồi Thịt Băm là tên
gọi của trận chiến giữa Quân đội Nhân dân Việt Nam, Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam với Quân đội Mỹ từ ngày 10 tháng
5 đến
ngày 20 tháng
5 năm
1969 ở Thừa Thiên (nay
thuộc Thừa Thiên-Huế).
Trận chiến nổ ra khi Hoa Kỳ tập trung lực lượng gần 2.000 quân dưới sự
yểm trợ mạnh của hỏa lực phi pháo để đánh chiếm quả đồi (núi A Bia, phía Mỹ gọi
là Cao điểm 937) do 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam chiếm
giữ.
Trận đánh diễn ra chủ yếu bằng bộ binh: quân Mỹ leo lên đồi cao
tấn công đối phưong. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam cũng ra
sức cố thủ dựa vào địa thế hiểm trở cùng thời tiết khắc nghiệt.
Dù được yểm trợ mạnh bởi pháo binh và không quân, các cuộc tấn
công của Mỹ đã nhiều lần bị đẩy lùi bởi sự phòng ngự có hiệu quả của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam.
Ngọn đồi này sau trận đánh đã được lính Mỹ gọi là "Đồi Thịt
Băm" - Hamburger Hill,
như một cách thể hiện độ khốc liệt và thương vong cao của lính Mỹ.
Theo Samuel Zaffiri, tác
giả của cuốn Hamburger Hill,
quân Mỹ đã chiếm được ngọn đồi sau 10 ngày chiến đấu với số thương vong lên tới
72 người chết và 372 bị thương và lại phải bỏ vị trí này một tháng sau đó
Bối cảnh
A Bia là điểm cao đột xuất (937m) nằm giữa vùng rừng núi trùng điệp
gần biên giới Việt-Lào (cách 1,9 km). Đỉnh A Bia có ba mỏm đứng thế chân
kiềng cao xấp xỉ nhau, cách nhau khoảng 400m. Trước đây Mỹ đã lên A Bia đóng dã
ngoại, nay còn nguyên công sự, xung quanh chất đống nhiều vỏ đồ hộp... Đỉnh A
Bia bị bom pháo phát quang nham nhở, trơ lại những thân cây khô cháy.[cần dẫn
nguồn]
Toàn bộ núi là một dải gồ ghề, hoang dã bao phủ bởi rừng với
những tán tre mọc dày đặc cộng vởi cỏ voi cao ngang thắt
lưng. Cỏ có khi cao hơn cả một xe bọc thép M-113. Các
dân tộc địa phương gọi A Bia là "núi muông thú ẩn mình".
Kế hoạch của 2 bên
Liên quân Hoa Kỳ-Việt Nam Cộng hòa
Hamburger Hill, avril 2011, photo Bác Trâu.
Các trận đánh trên Cao điểm 937 xảy ra tháng 5 năm 1969, là giai
đoạn hai của Chiến dịch Apache Snow, một
chiến dịch gồm ba giai đoạn nhằm mục đích tiêu diệt lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam trong
khu vực thung lũng A Sầu (A
Shau), một mắt xích trong tuyến đường chi viện vào miền Nam Việt Nam.
Năm 1966, Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã
thành công trong việc đánh chiếm doanh trại của Mỹ trong thung lũng A Shau, tức
A Sầu (Trận A Sầu) và thiết lập sự hiện diện tại đây.
An undated photo of a Huey helicopter landing
with soldiers of the 101st Airborne Delta Raiders in the A Shau valley near
Hue, Vietnam.
Sau đó các nỗ lực liên tục của Mỹ nhằm tái chiếm thung lũng đã
không thành công. Trung tướng Richard G. Stilwell, chỉ
huy của Quân đoàn 24 của Hoa Kỳ, quyết định huy động lực lượng tương đương với
hai sư đoàn được hỗ trợ mạnh bởi pháo binh và không quân để hoàn thành nhiệm
vụ.
Lực lượng tham chiến tại Đồi 937 gồm 3 tiểu đoàn của Sư đoàn
Không vận 101, chỉ huy là Thiếu tướng Melvin Zais. Các
tiểu đoàn này đều thuộc Lữ đoàn 3 (chỉ huy bởi Đại tá Joseph Conmy) gồm
Tiểu đoàn 3/187 Bộ binh (Trung tá Weldon Honeycutt), Tiểu
đoàn 2/501 bộ binh (Trung tá Robert German) và Tiểu đoàn 1/506 bộ binh (Trung
tá John Bowers). Hai
tiểu đoàn 2/1 và 4/1 thuộc Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa được giao nhiệm
vụ hỗ trợ cho Lữ đoàn 3. Các đơn vị khác tham gia trong chiến dịch bao gồm các
Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, Thiết đoàn 3 thuộc Trung đoàn Kỵ binh
5 Lục quân Hoa Kỳ và Trung đoàn 3 thuộc Sư đoàn 1 Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Kế hoạch của Đại tá Conmy là dùng 5 tiểu đoàn mở cuộc tấn công
vào thung lũng bằng trực thăng vào ngày 10 tháng
5 năm
1969, để tìm kiếm cũng như phá hủy các kho quân nhu của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam.
Kế hoạch tổng thể của cuộc tấn công là Thủy quân lục chiến và
các đơn vị trinh sát tiến về phía biên giới Lào, trong khi các đơn vị Việt Nam
Cộng hòa (VNCH) cắt đường giao thông qua thung lũng. Tiểu đoàn 2/501 và 1/506
sẽ tiêu diệt đối phương và ngăn chặn các tuyến đường trốn thoát sang Lào. Nếu
một tiểu đoàn đụng độ mạnh với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, Conmy sẽ hỗ trợ nó bằng trực thăng với một trong các đơn vị
khác. Về lý thuyết, với sức cơ động cực mạnh nhờ trực thăng, Sư đoàn 101 có thể
phản ứng đủ nhanh để ngăn chặn bất kỳ đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam nào.
Khi một tiểu đoàn của Hoa Kỳ phát hiện một đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, nó sẽ tổ chức đánh chặn cho đến khi một tiểu đoàn tăng cường
có thể cắt đường rút lui và dùng hỏa lực vượt trội tiêu diệt đối phương.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã đánh giá thấp sức mạnh thực tế của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam[cần dẫn nguồn]. Là
bậc thầy ngụy trang[cần dẫn nguồn], Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam hoàn
toàn che giấu các căn cứ của họ khỏi trinh sát trên không của Mỹ[cần dẫn nguồn]. Khi
di chuyển, Quân Giải Phóng thường làm vào ban đêm, dọc theo những con đường mòn
dưới tán rừng rậm rạp. Quân Giải Phóng thực hiện liên lạc và kiểm soát chủ yếu
bằng thư và điện tín, không
sử dụng thiết bị điện tử để tránh bị theo dõi. Qua kinh nghiệm trong nhiều cuộc
đụng độ lớn hơn cho thấy Quân Giải Phóng thường chỉ giao chiến trong một thời
gian ngắn, gây tổn thất lớn nhất có thể cho Mỹ và sau đó nhanh chóng rút đi
trước khi phải hứng chịu hỏa lực áp đảo của Mỹ. Chiến đấu kéo dài như tại Đắk Tô hay trận Ia Đrăng là
tương đối hiếm[cần dẫn nguồn].
Honeycutt dự đoán tiểu đoàn của ông ta có đủ năng lực để thực hiện một cuộc
trinh sát trên Cao điểm 937 mà không cần tăng cường hơn nữa, mặc dù ông ta đã
yêu cầu quân dự bị của lữ đoàn, và Đại đội Bravo của mình, sẵn sàng hỗ trợ.
=== Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam Sau khi
liên tục giao chiến với Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ trong Chiến dịch Dewey Canyon vào tháng 2, Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã di
chuyển Trung đoàn 6, 9 và 29 vào khu vực thung lũng A Lưới để tái trang bị, bổ sung thiệt hại.
Thung lũng A Lưới nằm về phía tây bắc thành phố Huế khoảng
30 km, được bao bọc với một số điểm cao như Động So (1.100m), Ba Lao
(1.400m), A Bia (937m) và Động Ràng... Sông A Ráp và đường 14 chạy dọc chiều
dài thung lũng. Phía tây bắc có sông Đáp Lim, A
Lưới, nối với Huế bằng đường số 12.
Kế hoạch càn quét A Lưới của Mỹ đã được Bộ tư lệnh Quân khu Trị-Thiên
dự kiến từ trước. Do vậy, từ đầu tháng 3 năm 1969 quân khu đã điều Trung đoàn 3
vào chuẩn bị chiến trường sẵn sàng đánh Mỹ. Sư đoàn trưởng Chu Phương Đới, Chính
ủy Nguyễn Xuân Trà cùng đi với trung đoàn.
Chiều ngày 7 tháng 5, Đảng ủy Trung đoàn họp mở rộng[cần dẫn
nguồn]. Sau khi nghe Kiều Tam Nguyên, Bí
thư Đảng ủy Trung đoàn quán triệt mục đích, yêu cầu của đợt hoạt động, hội nghị
dành nhiều thời gian thảo luận chọn một trong các phương án tác chiến do Trung
đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan trình bày.
Một, với 1 đại đội pháo phòng không 12,7mm, 1 đại đội cối 82mm
được tăng cường 1 tiểu đoàn bộ binh, trung đoàn sẽ vận dụng chiến thuật vận
động tiến công kết hợp chốt, lấy đại đội, trung đội xuất kích ngắn, tập kích
vào từng cụm quân Mỹ đóng dã ngoại. Tuỳ tình hình diễn biến cụ thể, trung đoàn
chuẩn bị phương án vận động tiến công kết hợp chốt cấp trung đoàn, tiêu diệt
tiểu đoàn Mỹ. Để đạt được mục đích đó, trung đoàn phải tạo cho được cụm điểm
chốt liên hoàn nhằm thu hút quân Mỹ vào sâu hơn nữa, tạo khả năng và điều kiện
cho các phân đội cơ động tiến công tiêu diệt quân dã ngoại và quân ứng cứu.[cần dẫn nguồn]
Hai, không xây dựng cụm chốt, chỉ dùng lực lượng cơ động tiến
hành mật tập phục kích, tập kích, xuất kích ngắn để tiêu diệt quân Mỹ đóng dã
ngoại. Mỹ đang hung hăng, đang có tham vọng quét lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam ra xa,
nếu gặp lực lượng chủ lực nhất định Mỹ sẽ bâu lại "quét", lúc đó sẽ
sử dụng lực lượng cơ động để tập kích vào những khu vực quân Mỹ co cụm.
Sau nhiều giờ tranh luận, hội nghị nhất trí chọn phương án một,
nhưng cũng sẵn sàng chuyển sang phương án hai. Trung đoàn chọn A Bia để xây
dựng cụm chốt.
15 giờ ngày 8 tháng 5, các đơn vị xuất phát hành quân chiếm lĩnh
trận địa.[cần dẫn nguồn] Tiểu đoàn 8 được tăng cường Đại đội 14 cối
82mm xây dựng cụm chốt ở A Bia. Tiểu đoàn 7 bố trí ở khu vực các điểm cao 903
và 916. Đại đội 16 cơ động dọc phía tây đường số 14 đoạn A Sầu - A Lưới. Khối
hỏa lực còn lại do trung đoàn trực tiếp nắm. Tiểu đoàn 9 làm lực lượng dự bị,
trước mắt có nhiệm vụ chuyển gạo, đạn từ A Rum vào A Lưới. Các chiến sĩ trinh
sát bám sát từng mũi tiến quân của Mỹ.
Diễn biến
Mở màn trận đánh
U.S. Army Soldiers inspect damage in the
surrounding area of Dong Ap Bia during Operation Apache Snow, May 1969.
Lúc 10 giờ 15 phút ngày 10 tháng
5, Tiểu đoàn 8 do Tiểu đoàn trưởng Đinh Xuân Bài chỉ huy nổ súng tiến công 1 đại đội thuộc
Tiểu đoàn Dù số 3 Mỹ trên các điểm cao 400, 500, cách đông bắc A Bia khoảng
2 km. Đại đội 5 được tăng cường hai cối 82mm, chia làm ba mũi, mũi chính
đánh ngang đội hình địch ở "yên ngựa" rồi tỏa ra hai hướng đánh ngược
lên các đỉnh 500 và 400, để kết hợp với hai mũi đánh từ phía sau mỏm 500 xuống.
Trên mỏm cao 400, sau khi bí mật tiếp cận mục tiêu, đến giờ nổ
súng, tiểu đội 10 tiêu dệt 1 tiểu đội Mỹ, sau đó phát triển xuống "yên
ngựa", phối hợp với trung đội 3 đánh ngược lên.[cần dẫn nguồn]
Cùng lúc đó ở mỏm 500, tiểu đội 9 đánh lên đỉnh, nhưng trúng hai
quả mìn định hướng Mỹ gài sẵn làm thương vong gần hết. Mũi phát triển từ
"yên ngựa" lên cũng bị quân Mỹ từ trên mỏm bắn xuống, đội hình tiến
công ở hướng này bị chững lại. Đại đội 5 phải dùng cối 82 ly và B-40 đặt từ đỉnh 400 bắn sang chi viện nhưng vẫn
không dứt điểm được. Pháo binh Mỹ dồn dập bắn vào mỏm 400, kết hợp với hai máy
bay trực thăng rà sát ngọn cây quét đại liên, thả lựu đạn xung quanh điểm cao
500. Trước tình hình đó, tiểu đoàn 8 lệnh cho đại đội 5 lùi về A Bia tiếp tục
xây dựng trận địa chốt. Trận chiến đấu diễn ra không quá một giờ, hàng chục
lính Mỹ tử trận. Tiểu đoàn 8 của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam do phân
tán lực lượng, không tập trung vào mục tiêu chủ yếu là sở chỉ huy Mỹ đã để quân
Mỹ kịp tổ chức chống cự gây nhiều tổn thất.
Ở hướng tiểu đoàn 7, ngay phút đầu ban chỉ huy tiểu đoàn đã tập
trung hỏa lực chi viện cho đại đội 1 đánh lên điểm cao 903. Sau khi hàng chục
lính Mỹ tử thương.[cần dẫn nguồn] Mỹ đưa 6 máy bay trực thăng lên chi viện và
bốc 2 đại đội ở đây về phía nam.
Quân Mỹ biết đã gặp lực lượng chủ lực, tăng cường độ đánh phá và
dùng trực thăng vũ trang thay nhau trinh sát khu vực xảy ra chiến sự.
Ngày 11 tháng 5, Honeycutt giao cho 2 đại đội Alpha và Delta do
thám phía bắc và tây bắc núi A Bia, trong khi các đại đội Bravo và Charlie tăng
cường tại các tuyến đường khác nhau. 13 giờ ngày 11 tháng 5, Mỹ đổ 2 tiểu đoàn
xuống các điểm cao 903, 916 và A Bia. Phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, Trung đoàn trưởng lệnh cho tiểu đoàn 7 để 1 đại đội ém quân tại
khu vực 903, 916, còn 3 đại đội cơ động bám sát, tiến công Mỹ.
Khi ra ngoài bãi đáp trực thăng trên sườn núi phía bắc, Đại đội
Bravo đã giao tranh dữ dội với lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam trong
khu vực 1 km vào cuối ngày. Honeycutt nhanh chóng chỉ đạo máy bay trực
thăng vũ trang AH-1
Cobra, trang bị rocket và súng máy hạng nặng để hỗ trợ cho một cuộc
tấn công vội vã.
Trong rừng rậm, những chiếc Cobra nhầm tiểu đoàn 3/187 Mỹ với
một đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam nên đã
tấn công, giết chết hai người và làm bị thương 35, (gồm cả Honeycutt). Việc bắn
lầm này phá vỡ đội hình và sự chỉ huy, và buộc tiểu đoàn 3/187 rút lui vào vị
trí phòng thủ đêm. Tuy nhiên, liên lạc xác nhận rằng một lực lượng đáng kể phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã có
mặt, Honeycutt ước tính là cần tăng cường một trung đội hoặc đại đội.
Cũng đêm ngày 11, tiểu đoàn đặc công của quân khu tiến công sở
chỉ huy lữ đoàn dù 3 Mỹ ở căn cứ Động Tranh. Sáng
ngày 12 tháng 5 Mỹ phải đưa tiểu đoàn 2/506 ở A Lê Thiêm về bảo vệ sở chỉ huy
lữ đoàn. Mỹ rút tiểu đoàn 2 về Động Tranh, phía bắc A Bia không còn lính chốt
giữ. Ban chỉ huy Trung đoàn 3 Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam quyết
định điều tiểu đoàn 9 do tiểu đoàn trưởng Vượng chỉ huy hoạt động từ địa đạo
Lam Sơn đến khu vực Bãi Ổi. Tiểu đoàn 8 tiếp tục củng cố trận địa chốt.
Cũng trong hai ngày này, Honeycutt điều khiển các đại đội của
mình tới các vị trí cho một cuộc tấn công phối hợp ngày 13 tháng 5 nhưng đã
thất vọng bởi địa hình khó khăn và sự kháng cự của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam. Một đơn vị của Đại đội Delta, rơi vào một khe núi dốc lầy lội
vào ngày 12 tháng
5, phải chịu đựng tổn thất rất cao trong hai ngày.
Quân Mỹ
đẩy mạnh tấn công
Wounded Soldiers are loaded on to a UH1
helicopter during Operation Apache Snow, May 1969.
Buổi trưa ngày 13 Tháng 5, chỉ huy lữ đoàn Dù, Đại tá Conmy, đã
quyết định nó sẽ cắt đứt chi viện của lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam từ Lào
và hỗ trợ Honeycutt bằng cách tấn công A Bia từ phía nam. Đại đội Bravo được
trực thăng đưa lên Đồi 916, nhưng phần còn lại của tiểu đoàn di chuyển bằng
đường bộ, từ một khu vực cách 4 km từ Đồi 937, và cả Conmy và Honeycutt dự
kiến Tiểu đoàn 1/506 sẽ sẵn sàng cung cấp hỗ trợ không muộn hơn buổi sáng
ngày 15 tháng 5. Mặc dù Đại đội Bravo đã tới Đồi 916 ngày 15 tháng
5, nó đã không tham gia tấn công cho đến ngày 19 tháng
5 do rừng
rậm gần như không thể di chuyển.
Lúc 12 giờ trưa ngày 13 tháng
5, đại đội Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam phát
hiện một tốp lính Mỹ trong hố bom dưới "yên ngựa", đang dùng ống nhòm
quan sát lên đỉnh A Bia. 20 phút sau nhiều lính Mỹ kéo ra dưới mỏm "yên
ngựa". Đợi lính Mỹ dưới hố bom leo lên, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam dùng
mìn sát thương cùng với bộ binh tiến lên đánh vào nhóm đi trước, khẩu đội cối
82mm đánh chặn phía sau. Quân Mỹ bỏ chạy theo triền đồi. Đại đội 1 tiểu đoàn
2/501 bị tiêu diệt. Quân Mỹ dùng trực thăng vận 2 đại đội khác đổ xuống chân
điểm cao A Bia nhặt xác đồng đội, nhưng trời đã tối nên phải quay về vị trí cũ.
Sau trận chiến đấu của đại đội 6 ở A Bia, phương án tác chiến
được khẳng định. Quân Mỹ tiếp tục phản kích lên A Bia và các điểm cao điểm 903,
916. Ban chỉ huy Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam quyết
định tiếp tục sử dụng tiểu đoàn 8 chốt ở A Bia và tiểu đoàn 7 giữ điểm cao 903,
đưa tiểu đoàn 9 vào hoạt động ở A Lê Thiêm, A Lê Lốc, đồng thời dùng đặc công
liên tục tập kích vào các vị trí đóng quân của Mỹ. Thực hiện chủ trương của
trung đoàn, đêm ngày 13 rạng ngày 14 tháng
5, đại đội 20 đặc công tập kích vào sở chỉ huy tiểu đoàn 1/506 ở
điểm cao 1078 phá huỷ trận địa pháo 105mm.
Ngày 13 tháng 5, lữ dù 3 Mỹ tổ chức phản kích vào các điểm cao
903 và 916. Tiểu đoàn 7 do tiểu đoàn trưởng Tăng Văn Miêu và chính trị viên Trần Triền chỉ huy. Trong thế xen kẽ, chiến sĩ tiểu
đoàn 7 đã tập kích khiến lính Mỹ phải thường xuyên di chuyển, gọi pháo chi viện
tạo nên vành đai hỏa lực xung quanh vị trí trú quân.
Ngày 14 tháng 5, tổ chức phân đội hỏa lực 12 khẩu gồm B-40, B-41, cối 82, cối 60 ly của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam bất ngờ
đánh vào đội hình của 1 đại đội Mỹ cách điểm cao 916 hai km về phía đông,
B-40
B-41
Sau khi dùng bom, pháo bắn phá dọn đường suốt hai ngày 13 và 14
tháng 5, quân Mỹ sử dụng tiểu đoàn 1/506 chia làm hai mũi tiến công đánh chiếm
lên A Bia. Phía đông nam, đợt phản kích của 2 đại đội Mỹ cũng bị đại đội 6 Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam ghìm
chân dưới "yên ngựa" bằng những bãi mìn và đạn cối. Khi quân Mỹ vượt được lên
"yên ngựa", vào gần tới đỉnh thì bị bộ binh Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam phục
kích. Bị đánh gần và bất ngờ, lính Mỹ lùi xuống chân điểm cao, gọi pháo chi
viện.
Biết lữ đoàn dù 3 Mỹ đang dồn nỗ lực chiếm A Bia, từ ngày 15
tháng 5 trở đi, tiểu đoàn 8 tranh thủ thời gian giữa hai đợt phản kích đào hầm,
phát triển tuyến chốt sang hướng sườn tây bắc điểm cao A Bia nhằm tránh pháo Mỹ
từ phía đông bắc bắn tới. Hầm hào được xây dựng nửa nổi, nửa chìm, có hầm ngủ,
hầm chiến đấu nhiều tầng, nhiều lớp. Cơ quan trung đoàn và các đơn vị trực
thuộc thay nhau lên A Bia giúp tiểu đoàn 8 xây dựng hầm hào. Với hệ thống công
sự này, tiểu đoàn 8 nấp mình trong lòng đất đã tránh được bom pháo Mỹ ngày đêm
cày nát ngọn đồi, tổ chức phản kích hàng chục đợt tiến công của quân Mỹ. Quân
Mỹ với sự hỗ trợ của bom napalm, súng phun lửa, pháo không giật đã tiến
rất chậm, mỗi công sự chiếm được đều phải trả giá đắt. Các đơn vị Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam cũng tổ
chức đánh các bãi đáp trực thăng của Mỹ, bắn rơi hoặc bắn hư hỏng nhiều máy bay
trực thăng dù chỉ có vũ khí hạng nhẹ và súng phóng lựu.
Sau 3 ngày bị chặn đứng, quân Mỹ thay đổi chiến thuật. Vừa dùng
phi pháo đánh ác liệt vào trận địa chốt, vừa dùng lực lượng cấp đại đội đánh vào
các điểm cao 916, 900, nhằm bao vây cô lập tiểu đoàn 8, sau đó dùng lực lượng
lớn tiến công, đánh chiếm A Bia.
Trưa ngày 15 tháng
5, trực thăng Mỹ đổ 1 đại đội (Đại đội Bravo) thuộc tiểu đoàn
1/506 xuống điểm cao 916, đồng thời tung 2 tiểu đoàn vào hướng điểm cao 900,
phối hợp lấn dần sang A Bia, cùng tiểu đoàn 2/501 tổ chức phản kích. Hai bên
giành giật nhau suốt hai ngày liền. Quân Mỹ ba lần thay quân, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam cũng
vơi dần, hầm hào sụt lở, không kịp củng cố. Các chốt của tiểu đoàn 8 mất dần,
nhất là hướng chốt đại đội 8. Tuy vậy phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam vẫn giữ
được A Bia.
Tiểu đoàn 8 bị cắt rời khỏi đội hình trung đoàn. Ban chỉ huy
tiểu đoàn hội ý quyết định để đại đội 6 tiếp tục củng cố trận địa, đánh địch từ
hướng bắc; rút đại đội 7 ra tăng cường cho chốt ở điểm cao 991, đại đội 5 bổ
sung cho chốt đại đội 8, số còn lại làm lực lượng dự bị. Đồng thời tiểu đoàn
điện báo cáo về trung đoàn: "Tình
hình có khó khăn, thương binh không chuyển được, đạn thiếu, lực lượng cơ động
không có. Chỉ có khả năng giữ đến sáng 17 tháng 5. Hướng rút lui phía nam A
Bia".
Lữ đoàn dù 3 Mỹ đã bị động đối phó về mặt chiến thuật, từ chỗ
chủ động lùng sục tìm diệt phải quay sang đánh chiếm mục tiêu đúng như ý định
của phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam. Ban chỉ huy trung đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam lệnh
cho tiểu đoàn 8 tiếp tục giữ A Bia, thu hút đối phương, tạo điều kiện cho hai
tiểu đoàn 7 và 9 cùng các đại đội hỏa lực lật cánh sang phía nam A Bia vận động
tấn công vào sườn quân Mỹ; trước mắt phải đánh bật đại đội Mỹ ở điểm cao 916 để
lập lại thế liên hoàn toàn trung đoàn.
Suốt hai ngày 16 và 17 tháng 5, nhiều trận đánh diễn ra liên
tiếp trong khu vực đồi 903, 916 và phía nam A Bia. Ngày 16 tháng
5, trung đoàn tập trung 16 khẩu cối, B-40, B-41 và đại liên
12,7mm tập kích bất ngờ vào đại đội Mỹ ở Động Chuối, 9 giờ ngày 17 tháng 5, đại
đội 2 tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công 1 đại đội Mỹ ở điểm cao 916. đánh bật quân
Mỹ ở mỏm 1. Quân Mỹ bỏ mỏm 2 chạy dạt xuống chân điểm cao, vấp phải chốt của
đại đội 5. Hai giờ chiều ngày 17 tháng 5, nhiều quân Mỹ ở 916 tử trận. Hành
lang giữa 916 và A Bia đã khai thông. Đường sang tiểu đoàn 8 lại được mở. Chỉ
huy lữ dù 3 chưa hay biết gì về số phận đại đội Mỹ trên điểm cao 916 nên vẫn cho
trực thăng đổ quân tiếp ứng cho đại đội này, nên bị đại đội 2 bắn cháy 2 trực
thăng và lính đi cùng.
Thời gian này, ở hướng A Bia cũng diễn ra trận chiến đấu ác
liệt. Mỹ cố đánh chiếm A Bia để gỡ thể diện và để nhặt xác đồng đội tử trận
suốt hai ngày qua. Sau khi cắt rời tiểu đoàn 8 khỏi đội hình Trung đoàn 3, lữ
dù 3 Mỹ cùng tiểu đoàn 2/501 và hai đại đội thuộc tiểu đoàn 1/506 bâu quanh A
Bia thay nhau phản kích. Mỹ không dùng chiến thuật "cơn sóng lớn áp đảo
đối phương" nữa mà thực hiện chiến thuật "sóng liên hồi" nhằm
gây căng thẳng dẫn đến suy sụp về ý chí và tinh thần, buộc phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam phải
mệt mỏi mà rút bỏ A Bia.
Trong hai ngày 16 và 17 tháng 5, các trận địa pháo Mỹ dọc đường
số 12 hướng về A Bia trút đạn, bắn cả đạn hóa học gây chảy nước mắt, nước mũi.
Trận phản kích cuối cùng trong ngày 17 tháng 5 diễn ra lúc 15 giờ. Quân Mỹ chia
làm 4 mũi, dùng đạn hóa học đánh lên A Bia. Đến 16 giờ, 1 đại đội Mỹ được phi
pháo yểm trợ lại tiến công lên chốt.
Trong lúc quân Mỹ còn tập trung vào hướng các đại đội 5 và 6 thì
đại đội 2, tiểu đoàn 7 bất ngờ tiến công vào sườn trái đội hình phản kích của 1
đại đội Mỹ, hất xuống chân điểm cao. Đợt phản kích cuối cùng của Mỹ lên A Bia
trong ngày 17 đã thất bại.
Bị cầm chân suốt 5 ngày, các chỉ huy lữ đoàn Mỹ đã ra lệnh một
cuộc tấn công phối hợp hai tiểu đoàn vào 18 tháng
5, với tiểu đoàn 1/506 tấn công từ phía nam và 3/187 tấn công từ
phía bắc, cố gắng để cô lập lực lượng đối phương. Đại đội Delta của tiểu đoàn
3/187 được không vận tới gần ngọn đồi, nhưng bị tập kích và thương vong nghiêm
trọng, bao gồm tất cả các sĩ quan của mình. Từ một máy bay trực thăng quan sát,
chỉ huy tiểu đoàn đã cố gắng phối hợp các đại đội khác vào một cuộc tấn công
cuối cùng, nhưng một trận mưa dữ dội làm giảm khả năng yểm trợ không quân và
kết thúc trận đánh. Tiểu đoàn 3/187 một lần nữa phải rút lui xuống núi. Ba đại
đội của tiểu đoàn 1/506 chiến đấu để giành điểm cao 900, phía nam của đỉnh núi,
cũng gặp phải sự kháng cự mạnh.
Bởi thương vong nặng nề trong 1 tuần và chịu áp lực từ sự chú ý
không mong muốn báo chí, một số chỉ huy nghiêm túc xem xét việc ngừng các cuộc
tấn công. Cả hai tư lệnh quân đoàn và tư lệnh MACV, tướng Creighton W. Abrams, công
khai ủng hộ quyết định này. Nhưng các chỉ huy tại chỗ lại cảm thấy sẽ bị bẽ mặt
khi phải rút lui bởi một lực lượng đối phương nhỏ bé hơn nhiều. Vậy là Zais
quyết định tiếp tục tấn công, tung ba tiểu đoàn mới vào chiến đấu thay thế cho
những đơn vị đã thiệt hại nặng. Tiểu đoàn 3/187 thiệt hại nghiêm trọng, với
khoảng 320 thiệt mạng và bị thương, chiếm hơn 60% trong số 450 binh sĩ có kinh
nghiệm ban đầu. Hai trong số bốn chỉ huy đại đội và 8/12 trung đội trưởng đã
thương vong.
Lực lượng Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam rút lui
Sau 1 tuần chiến đấu, 2 tiểu đoàn Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã hoàn
thành mục tiêu được giao[cần dẫn nguồn] là tiêu diệt một lượng đáng kể lính Mỹ. Như chiến lược chung
trong những trận đánh với Mỹ, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam không
cố gắng giành giật trận địa mà chỉ cố gắng gây thương vong tối đa cho địch
trước khi tổ chức rút lui để tránh bị hỏa lực và sức cơ động vượt trội của Mỹ
bao vây tiêu diệt. Kế hoạch ban đầu là rút vào đêm 17 nhưng các đơn vị đã hoàn
thành tốt và kéo dài thêm được 1 ngày. Đêm 18, phía Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam bắt đầu
tổ chức rút lui khỏi trận địa núi A Bia, chỉ để lại một bộ phận nhỏ làm nghi
binh.
Ngày 19 tháng
5, 2 tiểu đoàn bộ binh Mỹ đã được không vận vào bãi đáp đông bắc
và phía đông nam của núi. Cả hai tiểu đoàn ngay lập tức di chuyển lên núi để
tới các vị trí mà từ đó họ sẽ tấn công vào sáng hôm sau. Trong khi đó, tiểu
đoàn 1/506 dùng ngày thứ ba liên tiếp để bảo đảm an toàn cho điểm cao 900.
Lữ đoàn 3 đưa ra bốn tiểu đoàn của mình tấn công vào lúc 10 giờ
ngày 20 tháng
5, bao gồm cả hai đại đội của 3/187 được tăng cường bởi đại đội
Alpha 2/506. Các cuộc tấn công được hỗ trợ bởi 2 giờ không kích và 90 phút nã
pháo. Các tiểu đoàn tấn công đồng thời, 12 giờ tiểu đoàn 3/187 lên tới đỉnh.
Đơn vị nhỏ làm nhiệm vụ nghi binh còn lại của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam sau khi
nổ súng cầm chân quân Mỹ đã rút sang Lào theo đơn vị chính, và Đồi 937 được
quân Mỹ nắm giữ vào 17 giờ.
Năm 2011, bà Kan Đơm, nữ du kích người dân tộc Pa Kô kể rằng, có
một chuyện mà nhiều người chưa biết về những gì lính Mỹ đã làm với chiến sĩ du
kích Cu Lọi khi trận đánh trên ngọn đồi A Bia kết thúc. Anh Cu Lọi tham gia
đánh căn cứ A Bia, nhận nhiệm vụ ở lại cản chân quân Mỹ để đồng đội rút lui. Cu
Lọi hy sinh, nhưng lính Mỹ đã lấy xác anh, chặt đầu cắm lên cọc, băm thi thể
anh ra từng mảnh vụn rải khắp ngọn đồi. Bà Kan Đơm kể: "Lính Mỹ làm vậy là để cho
người Pa Kô của mệ nhụt chí không còn dám theo Đảng và Bác Hồ đánh giặc nhưng
chúng đã lầm. Từ đó, đồng bào Pa Kô đã gọi đồi A Bia là đồi Băm (băm xác) để
khắc ghi trong tim mình sự hy sinh anh dũng của anh Cu Lọi mà quyết tâm đánh
giặc đến cùng..."
Kết quả
Trong 10 ngày chiến đấu, quân đội Mỹ chịu thiệt hại 72 lính chết
và 372 bị thương, vài trực thăng bị bắn rơi hoặc bắn hỏng. Quân Mỹ tuyên bố các
tiểu đoàn 7 và 8 của Trung đoàn 29 Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam đã có
630 người tử trận (chưa kể số bị thương) khi chiến đấu với quân Mỹ. Con số
thiệt hại của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam do Mỹ
tuyên bố gây nhiều tranh cãi và bị coi là phóng đại, bởi thực tế quân Mỹ không
thể đếm số lính Việt Nam bị chết trong hoàn cảnh chiến trường khi đó (địa hình
rừng núi, pháo kích và không quân ném bom dày đặc làm chiến trường rất khó quan
sát, bộ binh Việt Nam cũng thường ẩn mình trong các công sự khó bị phát hiện).
Trong thực tế, trong suốt trận đánh, quân Mỹ chỉ thu được 89 vũ khí cá nhân và
22 vũ khí cộng đồng của Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam (chỉ
bằng 1/6 số lính Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam tử trận
mà Mỹ tuyên bố).
Quân Mỹ hao tổn hàng trăm sinh mạng nhưng rốt cục chỉ chiếm được
một ngọn đồi không có giá trị về quân sự. Thiếu tướng John M. Wright lặng lẽ ra lệnh rút khỏi đồi ngày 5 tháng 6. Các
cuộc tranh luận về "Hamburger Hill" diễn ra tại Quốc hội Hoa Kỳ, với những lời chỉ trích đặc
biệt nghiêm trọng của các thượng nghị sĩ Edward
Kennedy, George
McGovern, và Stephen M. Young. Edward
Kennedy gọi đây
là "Cuộc hành quân điên
rồ và vô trách nhiệm. Sinh mạng của binh sĩ Mỹ đã bị phung phí chỉ để thể diện
nhà binh cho các sĩ quan chỉ huy"
George Stanley McGovern (19/7/1922 - 21/10/2012) là 1 nhà sử học Mỹ đồng thời
ông còn là 1 chính trị gia. Ông là thành viên của đảng Dân Chủ.
Edward Moore "Ted"
Kennedy (February 22, 1932 – August
25, 2009) was an American politician who served as a United States
Senator from Massachusetts for over
forty years from 1962 until his death in 2009
Báo chí Mỹ ngày 25 tháng
5 năm 1969
gọi A Bia là "Đồi thịt băm của lính dù Mỹ", lên án quân đội Mỹ ném
quân lên vùng núi A Bia chỉ để biến cuộc hành quân "Tuyết rơi trên đỉnh
núi" (Apache Snow) thành "Máu
rơi trên đỉnh núi". Trong số 27 tháng 6, Tạp chí Life đã công bố những bức ảnh của 241 lính Mỹ
thiệt mạng trong một tuần tại Việt Nam, được coi là một bước ngoặt của chiến
tranh. Dù chỉ có một phần trong số này là thương vong trên Hamburger Hill,
nhiều người Mỹ đã nhận thức rằng tất cả những người chết đều là nạn nhân của
"trận đánh điên rồ và vô nghĩa" này.
Tranh cãi về trận Hamburger Hill đã dẫn đến một đánh giá lại chiến lược của Mỹ
ở miền Nam Việt Nam. Như một kết quả trực tiếp, để giữ thương vong không cao
quá mức, tướng Abrams ngừng chính sách "áp lực tối đa" chống lại Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, trong khi Tổng thống Richard
Nixon đẩy
nhanh thực hiện chiến lược mới là Việt Nam hóa chiến tranh, và
tuyên bố đợt rút quân viễn chinh đầu tiên. Mặc dù trận đánh chỉ ở mức tiểu
đoàn, song nó đã trở thành một bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam.
Với Quân Giải phóng miền Nam Việt
Nam, những kết quả thu được trong trận đánh ở A Bia và đợt hoạt
động phản công của Sư đoàn 324 ở vùng thung lũng A Lưới đã cổ vũ và thúc
đẩy phong trào đánh phá "bình định" đang phát triển ở các địa phương.
Chiến thắng A Bia đã đi vào trang sử truyền thống đầu tiên của sư đoàn 324 kể từ khi được tổ chức lại và là mốc mở đầu
cho giai đoạn khôi phục lại thế trận xuống đồng bằng, lập lại thế ba vùng chiến
lược sau Tết Mậu Thân 1968.
No comments:
Post a Comment